- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của anh Nguyễn Thanh PH
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 658/2019/HNGĐ - ST Ngày: 05 - 12 - 2019 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Giữ;
Ông Mai M Chánh.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 504/2019/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh PH, sinh năm 1984 (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Cao Thị Thanh TH, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Cùng trú tại ấp Mỹ Th, xã Mỹ Ph, huyện CP, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/9/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn anh Nguyễn Thanh PH trình bày: Anh và chị TH do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Ph, huyện CP, tỉnh An Giang. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn vì không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả nhau, đã hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Tình cảm không còn nên anh PH xin ly hôn với chị TH. Về con chung: Anh PH và chị TH chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Quốc M, sinh ngày 17/3/2009 đang ở với chị TH, ly hôn con chung muốn ở với anh thì anh nuôi, muốn ở với vợ thì vợ nuôi, không cấp dưỡng. Về tài sản chung; nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn chị Cao Thị Thanh TH, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng chị TH vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị TH.
Tại phiên tòa, anh PH giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị TH. Con chung đồng ý giao cho chị TH tiếp tục nuôi, anh PH không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Chị TH vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, anh PH cho rằng anh và chị TH chung sống thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hợp nhau, vợ chồng đã ly thân năm 2017 đến nay, hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh PH yêu cầu ly hôn với chị TH là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Quốc M, sinh ngày 17/3/2009, sau khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Quốc M do chị TH chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung và theo nguyện vọng của cháu Quốc M muốn ở với chị TH nên đề nghị giao con chung cho chị TH tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh PH không cấp dưỡng nuôi con. Chị TH đang nuôi con chung nhưng từ khi thụ lý vự án đến nay chị TH không có văn bản trình bày ý kiến về cấp dưỡng nuôi con, nên đề nghị chấp nhận ý kiến của anh PH, sau này chị TH có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu trong một vụ án khác.
- Về tài sản chung; nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Chị CaoThị Thanh TH có hộ khẩu thường trú tại xã Mỹ Ph, huyện CP. Anh PH khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Bị đơn chị TH được Tòa án nhân dân huyện CP tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Anh PH và chị TH chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Ph, huyện CP, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi kết hôn anh chị có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau anh PH và chị TH xảy ra mâu thuẫn, cải vả nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, đã ly thân từ năm 2017 đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên anh PH xin ly hôn với chị TH. Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa anh PH kiên quyết xin ly hôn với chị TH. Tòa án đã triệu tập chị TH để tiến hành hòa giải nhưng chị TH không đến tham dự. Hội đồng xét xử xét thấy chị TH không có ý định hàn gắn quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh PH.
- Về con chung: Anh PH và chị TH chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Quốc M, sinh ngày 17/3/2009 đang ở với chị TH. Ly hôn, anh PH giao con chung cho chị TH nuôi dưỡng. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu Quốc M do chị TH chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của con chung và theo nguyện vọng của cháu Quốc M muốn tiếp tục ở với chị TH. Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Quốc M cho chị TH được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh PH có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh PH không cấp dưỡng nuôi con, chị TH không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh PH là anh PH không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị TH nếu có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì có quyền kiện yêu cầu trong một vụ án khác.
- Về tài sản chung; nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Anh PH phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của anh Nguyễn Thanh PH
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh PH được ly hôn với chị Cao Thị Thanh TH.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 235 ngày 25/4/2006 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Ph không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quốc M, sinh ngày 17/3/2009 cho chị Cao Thị Thanh TH được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh PH không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị TH cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Phuong trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Thanh PH phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005345 ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Cục thi hành án dân sự huyện CP.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAT An Giang; - THA huyện CP; - VKSND huyện CP; - UBND xã Mỹ Ph; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Mỹ |