vanban.org

Bản án 657/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Trương Anh S;

Anh Trương Anh S được ly hôn với chị Chu Thị Thúy H. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trương Thùy T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2002. Con chung đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Anh Trương Anh S, sinh năm 1971; Đăng ký hộ khẩu: P7 B8 T, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; - Bị đơn: Chị Chu Thị Thúy H, s…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Trương Anh S;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 657/2022/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 8 năm 2022
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Phương

2. Bà Nguyễn Thị Thụy

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 476/2022/TLST – HN&GĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 246/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 183/2022/QĐST-HPT ngày 11 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trương Anh S, sinh năm 1971; Đăng ký hộ khẩu: P7 B8 T, phường N, quận B, thành phố Hà Nội;

- Bị đơn: Chị Chu Thị Thúy H, sinh năm 1977; Đăng ký hộ khẩu: P7 B8 T, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.

(Anh S có mặt, chị H vắng mặt lần thứ hai liên tiếp không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trương Anh S trình bày như sau:

- Về tình cảm: Anh Trương Anh S và chị Chu Thị Thúy H có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 01 năm 2002 tại UBND phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay tôi xác định không còn tình cảm với chị H, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Chu Thị Thúy H.

- Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung là cháu Trương Thùy T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2002. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nhà ở: Anh S xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn hai bên tự lo về nhà ở.

- Về khoản nợ: Anh S xác nhận không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh S tự nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn. Tuy nhiên bị đơn đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ hai liên tiếp không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các văn bản tố tụng tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định tại Điều 63; điểm b khoản 2 Điều 227 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28; Điều 58; 63; 70 và điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn. Vợ chồng có 01 con chung là Trương Thùy T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2002, con chung đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết. Về tài sản chung và nhà ở, các khoản vay nợ nguyên đơn xác nhận tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết. Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm. Nguyên đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, vì vậy Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Trương Anh S và chị Chu Thị Thúy H là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay Anh S xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên giải quyết cho Anh S được ly hôn với chị H.

[3] Tòa án đã tiến hành ghi ý kiến của bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1943; Đăng ký hộ khẩu: Số 55 Cầu Giấy, phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội - là mẹ đẻ của Anh S - nguyên đơn trong vụ án xin ly hôn với chị H. Qua trao đổi đại diện gia đình nguyên đơn cho biết: Về tình cảm: Con trai tôi là Trương Anh S và con dâu tôi là Chu Thị Thúy H có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 01 năm 2002 tại UBND phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả; Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trương Thùy T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2002. Cháu đã trưởng thành nên để cháu tự quyết định; Về tài sản chung và nhà ở: Quan điểm của gia đình để hai anh chị tự quyết định; Về khoản nợ: Gia đình xác nhận không vay nợ hai cháu và hai cháu cũng không vay nợ gì gia đình.

Tòa án đã tiến hành ghi ý kiến của cháu Trương Thùy T, sinh năm 2002; Đăng ký hộ khẩu: P7 B8 T, phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội - là con đẻ của Anh S - nguyên đơn trong vụ án xin ly hôn với chị H. Qua trao đổi đại diện gia đình nguyên đơn cho biết: Về tình cảm: Bố tôi là Trương Anh S và mẹ tôi là Chu Thị Thúy H có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 01 năm 2002 tại UBND phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, bố mẹ chung sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bố mẹ bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả; Về con chung: Tôi Trương Thùy T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2002, là con chung của bố mẹ, tôi đã trưởng thành không phụ thuộc vào nuôi dưỡng của bố mẹ; Về tài sản chung và nhà ở: Quan điểm của cháu Trang để hai bố mẹ tự quyết định; Về khoản nợ: Cháu Trang xác nhận anh chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.

Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn tại địa phương nơi vợ chồng chung sống. Bà Ngô Thị H – Đại diện tổ dân phố số 01, phường N, cho biết: Anh Trương Anh S và chị Chu Thị Thúy H có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 01 năm 2002 tại UBND phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại P7 B8 T, phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, tổ dân phố không nắm rõ được việc mâu thuẫn giữa hai Anh S và chị H. Nay Anh S xin ly hôn chị H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Trương Thùy T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2002. Cháu đã trưởng thành. Nay ly hôn tổ dân phố không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đúng pháp luật; Về tài sản chung và nhà ở, các khoản vay nợ: Tổ dân phố không nắm được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân: Anh S và chị H kết hôn hợp pháp trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2017 đến nay. Nay Anh S xác định không còn tình cảm với chị H, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên giải quyết cho Anh S được ly hôn với chị H.

[5] Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung là Trương Thùy T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2002. Con chung đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết.

[6] Về tài sản chung và nhà ở: Anh S xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị tự lo về nhà ở. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ đối với bị đơn về yêu cầu xin ly hôn của Anh S trong đó có yêu cầu về tài sản chung và nhà ở. Tuy nhiên bị đơn không có ý kiến cũng như không giao nộp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến tài sản chung và nhà ở. Vì vậy, Tòa án không có căn cứ để xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung và nhà ở bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về khoản nợ: Anh S xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì vậy, Tòa án không có căn cứ để xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung và nhà ở bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm;

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ các căn cứ và nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; khoản 4 Điều 147; Điều 203; điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Trương Anh S;

Anh Trương Anh S được ly hôn với chị Chu Thị Thúy H.

2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trương Thùy T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2002. Con chung đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung và nhà ở: Anh S xác nhận tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung và nhà ở bằng một vụ án khác khi Anh S, chị H có yêu cầu.

Về khoản nợ: Anh Trương Anh S xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Dành quyền khởi kiện về khoản vay nợ bằng một vụ án khác khi Anh S, chị H có yêu cầu.

4. Về án phí: Anh Trương Anh S phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002009 ngày 24 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 27 tháng 8 năm 2022. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ