- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn chị An, anh Hiếu"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy A được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 655/2019/HNGĐ - ST Ngày: 04 - 12 - 2019 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Giữ;
2. Ông Nguyễn Văn Chào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 405/2019/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 466/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy A, sinh năm 1988. (Xin vắng mặt).
Trú tại ấp Tân Th, xã Tân L, huyện TB, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Trú tại ấp Bình H1 2, xã Bình M, huyện CP, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Trần Thị Thúy A trình bày: Chị và anh H chung sống từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân L vào năm 2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, một thời gian sau phát sinh mâu thuẫn, không hợp nhau, cải vả nhau, vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2019 đến nay, không còn tình cảm, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt, nên xin ly hôn với anh H.
Con chung: Chị Thúy A và anh H chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Trần An Nh, sinh ngày 12/9/2018, đang ở với chị Thúy A, ly hôn yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Chị Thúy A xin vắng mặt tại phiên tòa.
Anh H vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Thúy A cho rằng chị và anh H chung sống không hòa hợp, thường hay cải vả nhau, đã ly thân từ tháng 4/2019 đến nay. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Thúy A yêu cầu ly hôn với anh H là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trần An Nh, sinh ngày 12/9/2018, sau khi vợ chồng ly thân đến nay con chung do chị Thúy A chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung nên đề nghị giao cháu An Nh cho chị Thúy A tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Thúy A không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung; nợ chung: Không có. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Ngọc H có hộ khẩu thường trú tại xã Bình M, huyện CP. Chị Thúy A khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn chị Thúy A xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn anh H đã được Tòa án nhân dân huyện CP tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Thúy A và anh H chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân L, huyện TB, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi kết hôn anh chị có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau chị Thúy A và anh H xảy ra mâu thuẫn, cải vả nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, đã ly thân tháng 4/2019 đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị Thúy A xin ly hôn với anh H. Quá trình giải quyết vụ án, chị Thúy A kiên quyết xin ly hôn với anh H. Tòa án đã triệu tập anh H để tiến hành hòa giải nhưng anh H không đến tham dự. Hội đồng xét xử xét thấy anh H không có ý định hàn gắn quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thúy A.
- Về con chung: Chị Thúy A và anh H chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Trần An Nh, sinh ngày 12/9/2018 đang ở với chị Thúy A, ly hôn chị Thúy A yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu An Nh do chị Thúy A chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của con chung, theo yêu cầu của chị Thúy A muốn nuôi con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Trần An Nh, sinh ngày 12/9/2018 cho chị Thúy A được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thúy A không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Chị Thúy A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy A được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 12 ngày 23/02/2018 của Ủy ban nhân dân xã Tân L, huyện TB không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần An Nh, sinh ngày 12/9/2018 cho chị Thúy A được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Thúy A cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Thị Thúy A phải chịu 300.000đ Ba trăm nghìn đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ Ba trăm nghìn đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001539 ngày 19 tháng 7 năm 2019 của Cục thi hành án dân sự huyện CP.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAT An Giang; - THA huyện CP; - VKSND huyện CP; - UBND xã Tân L, h.TB; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Mỹ |