- Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: Lê Thị N - NBK: Chủ tịch, Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị N. Giữ nguyên bản án Hành chính sơ thẩm số 127/2022/HCST, ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An,
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Đất đai; Điều 76 Luật Đất đai; Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 653/2023/HC-PT Ngày: 07-8-2023 “V/v khiếu kiện Quyết định hành chính”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
Các thẩm phán:
Ông Trần Văn Mười
Ông Dương Tuấn Vinh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hành chính thụ lý số 891/2022/TLPT-HC ngày 14/12/2022 về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính, hành vi hành chính”. Do bản án hành chính sơ thẩm số 127/2022/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1793/2023/QĐ-PT ngày 10 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị N, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số A, Khu V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng L, Luật sư Văn phòng L1 – Đoàn Luật sư tỉnh L. Địa chỉ: Số E T, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
- Người bị kiện: Chủ tịch, Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: ông Trương Minh H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: ông Trương Văn Đ – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Lê D – Phó Giám đốc Trung tâm P (có mặt).
- Người kháng cáo: người khởi kiện ông Đinh Minh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ, bản án sơ thẩm và lời trình bày của các bên tham gia vụ kiện tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện ngày 04/01/2022 bà N trình bày: bà N là người đang trực tiếp quản lý sử dụng phần đất có diện tích 4.174m2 thuộc các thửa đất số 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bà N có nhận được Quyết định số 5484/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất, hỗ trợ tài sản trên đất của bà N. Bà N hoàn toàn không đồng ý với Quyết định trên của Chủ tịch UBND huyện Đ vì việc chi hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất và hỗ trợ tài sản trên đất cho phần đất có diện tích 4.174m2 thuộc các thửa số 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5 do bà N quản lý sử dụng chưa thỏa đáng. Do trường hợp của bà N phải được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất.
Ngày 29/6/2018 bà N đã nhận tiền hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất, hỗ trợ tài sản trên đất với số tiền là 201.075.000 đồng.
Ngày 24/12/2020 bà N làm đơn khiếu nại yêu cầu ban hành Quyết định thu hồi đất và yêu cầu được đền bù giá trị quyền sử dụng đất như đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bị thu hồi.
Ngày 23/12/2021 bà N nhận được Quyết định số 15800/QĐ-CT ngày 21/12/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ với nội dung bác đơn khiếu nại của bà N về khiếu nại yêu cầu UBND huyện Đ ban hành Quyết định thu hồi đất đối với diện tích đất 4.174m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5, trường hợp UBND huyện thu hồi đất thì yêu cầu được đền bù giá trị quyền sử dụng đất như được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lý do nội dung khiếu nại không có cơ sở xem xét, giải quyết.
Nay bà N khởi kiện yêu cầu:
Hủy Quyết định số 15800/QĐ-CT ngày 21/12/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà N, đất tọa lạc tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An thuộc dự án tạo quỹ đất sạch 200 ha.
Yêu cầu được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất của phần đất có diện tích 4.174m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5 và những tài sản khác trên đất đúng quy định, chi phí tôn tạo và các tài sản khác như chi phí ổn định cuộc sống, chi phí di dời, chi phí chuyển đổi ngành nghề. Bởi đất của bà N sử dụng ổn định, lâu dài, trong thời gian sử dụng đất phải tôn tạo đất chống ngập, đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải đất của nông trường quản lý.
Tại Văn bản số 5246/UBND-NC ngày 20 tháng 5 năm 2022 của người bị kiện Chủ tịch, Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An có nội dung như sau:
Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 15800/QĐ-CT ngày 21/12/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà N, đất tọa lạc tại thị trấn H: Vấn đề này chủ tịch UBND huyện Đ giữ nguyên quan điểm giải quyết tại Quyết định số 15800/QĐ-CT ngày 21/12/2021. Việc chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 15800/QĐ-CT ngày 21/12/2021 là đúng theo quy định của pháp luật, bởi vì: Căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ thì trường hợp của bà N sử dụng đất công (nhận khoán đất nông trường mía) của Nhà nước, không đủ điều kiện cấp giấy. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 82 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước không bồi thường về đất.
Đối với yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng đất diện tích 4.174m2 gồm các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5 và tài sản trên đất, chi phí tôn tạo đất, chi phí di dời, chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, chi phí ổn định cuộc sống của bà N thì qua kết quả đối chiếu bản đồ địa chính cũ (bản đồ 299) thể hiện các thửa đất số 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại thị trấn H thuộc Nông trường mía H cũ. Đây là đất công do Nhà nước quản lý.
Đối với yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng đất diện tích 4.174m2 gồm các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5 và tài sản trên đất, chi phí tôn tạo đất, chi phí di dời, chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, chi phí ổn định cuộc sống là không có cơ sở xem xét, giải quyết, bởi vì:
Đối với yêu cầu bồi thường về đất: Căn cứ khoản 4 Đều 82 Luật Đất đai 2013 thì trường hợp của bà N không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó trường hợp của bà N không đủ điều kiện bồi thường về đất.
Chi phí ổn định cuộc sống: Trường hợp của bà N sử dụng đất công của Nhà nước, không được bồi thường về đất. Do đó căn cứ Điều 19, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì trường hợp của bà N không được hỗ trợ ổn định đời sống.
Chuyển đổi nghề nghiệp: Trường hợp của bà N sử dụng đất công của Nhà nước, không được bồi thường về đất. Do đó căn cứ Điều 20, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì trường hợp của bà N không được hỗ trợ chi phí chuyển đổi nghề nghiệp.
Tái định cư: Trường hợp của bà N sử dụng đất công của Nhà nước, không được bồi thường về đất. Do đó căn cứ Điều 22, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì trường hợp của bà N không được hỗ trợ tái định cư.
Đối với yêu cầu bồi thường tài sản trên đất, chi phí tôn tạo đất thì được Nhà nước xem xét hỗ trợ như sau: Trường hợp của bà N đã được hỗ trợ về tài sản trên đất theo Quyết định số 5403/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của UBND huyện Đ với số tiền 250.448.000đ.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 127/2022/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính; Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 1 Điều 76, khoản 1 và khoản 4 Điều 82 Luật Đất đai 2013.
Căn cứ khoản 4, điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Căn cứ Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N về việc yêu cầu:
Hủy Quyết định số 15800/QĐ-CT ngày 21/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Yêu cầu được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất của phần đất có diện tích 4.174m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5 và những tài sản khác trên đất đúng quy định, chi phí tôn tạo và các tài sản khác như chi phí ổn định cuộc sống, chi phí di dời, chi phí chuyển đổi ngành nghề.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/9/2022, người khởi kiện bà Lê Thị N kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại điện theo ủy quyền của bà N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Trong phần tranh luận:
- Luật sư và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện thống nhấ trình bày: Nguồn gốc diện tích đất là của nông trường mía H, nhưng ủy ban nhân dân huyện Đ đã giao cho người dân sử dụng. Ngày 01/4/1989 Thường vụ huyện Ủy thống nhất giao toàn bộ diện tích đất này cho người dân tiếp tục sử dụng; Khế ước giao đất cho từng hộ dân thì các hộ đã nộp thuế hàng năm đầy đủ, trong thời gian này người dân đã nộp xong tiền theo Khế ước; sau đó Ủy ban không có động thái gì mà tiếp tục để cho các hộ dân sử dụng cho đến nay. Biên bản giải quyết khiếu nại, UBND tỉnh chỉ đạo UBND huyện cấp GCNQSDĐ cho người dân đang sử dụng (đất có nguồn gốc nông trường mía đường). Như vậy có chỉ đạo của UBND tỉnh nhưng UBND huyện Đ không thực hiện. Nên, có cơ sở khẳng định hộ bà N cũng như các hộ khác nằm trong dự án tuy chưa được cấp sổ nhưng đủ điều kiện bồi thường về đất, tài sản trên đất và các chính sách hỗ trợ về đất theo quy định của pháp luật. Đề nghị UBND huyện Đ nếu không cấp GCNQSDĐ thì khi thu hồi đất phải thực hiện bồi thường theo đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện ông Trương Văn Đ trình bày: Nguồn gốc đất là đất công do UBND huyện quản lý, các hộ dân sử dụng là trên cơ sở thuê thông qua Khế ước, các hộ dân chưa được giao quyền sử dụng đất nên UBND huyện ban hành các Quyết định là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành đúng quy định của pháp luật; tại phiên tòa người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Nguồn gốc đất các hộ dân sử dụng là của nông trường mía Hiệp Hòa trước đây do UBND huyện Đ quản lý; các hộ dân sử dụng diện tích đất này trên cơ sở hợp đồng Khế ước chứ không được giao quyền sử dụng đất; tuy các hộ có nộp thuế sử dụng đất nhưng không được công nhận quyền sử dụng đất. Do đó, UBND ban hành Quyết định hỗ trợ là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Lê Thị N trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện vắng mặt có người đại diện theo ủy quyền, người đại diện của người bị kiện có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; nên căn cứ Điều 225 của Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung, hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định: Căn cứ vào đơn khiếu nại của bà Lê Thị N, Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Long An ban hành Quyết định số 15800/QĐ-CT để giải quyết về việc khiếu nại của bà N là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền ban hành theo quy định.
Xét kháng cáo của bà Lê Thị N:
Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên toà, đại diện người khởi kiện cho rằng nguồn gốc diện tích đất 4.176m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại thị trấn H là do bà N mua từ bà Phan Thị S1 vào năm 2015 bằng giấy tay, trên thửa đất có trồng lúa, bạch đàn và sử dụng ổn định đến nay. Vì thế, khi thu hồi đất thì UBND huyện Đ phải ban hành Quyết định thu hồi đất. Và phần đất trên trước đó bà S1, sau này là bà N sử dụng ổn định lâu dài nên đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi thu hồi UBND huyện Đ chỉ hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất là chưa thỏa đáng mà phải được đền bù giá trị quyền sử dụng đất như đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chủ tịch UBND huyện Đ cho rằng diện tích đất 4.174m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại thị trấn H có nguồn gốc là của Nông trường mía H.
Căn cứ lời trình bày của các đương sự, tài liệu chứng cứ thu thập, có cơ sở xác định diện tích đất 4.174m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại thị trấn H do bà N đang quản lý sử dụng có nguồn gốc là của Nông trường mía H.
Xét thấy, bà N cho rằng diện tích 4.176m2 đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà N mua từ bà Phan Thị S1 vào năm 2015 bằng giấy tay, trên thửa đất có trồng lúa, bạch đàn và sử dụng ổn định đến nay. Trên thực tế, từ khi cho bà N sử dụng đất đến nay ngoài Khế ước cho thuê đất thì UBND huyện Đ không ban hành bất kỳ văn bản nào về việc giao đất cho bà S1 hay bà là người trực tiếp sử dụng. Ngoài ra, bà N cũng không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào chứng minh sau khi ký Khế ước cho thuê đất thì Cơ quan quản lý đất đai ban hành các văn bản giao đất cho người khởi kiện sử dụng. Vì vậy, có cơ sở xác định diện tích 4.176m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại thị trấn H là đất công do nhà nước quản lý.
Đối với yêu cầu được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất của phần đất có diện tích 4.174m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5 và những tài sản khác trên đất đúng qui định, chi phí tôn tạo và các tài sản khác như chi phí ổn định cuộc sống, chi phí di dời, chi phí chuyển đổi ngành nghề, Tòa cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập; Căn cứ quy định của pháp luật: Điều 76; Điều 82 Luật Đất đai năm 2013; khoản 4, Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Điều 19, Điều 20, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ để bác yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại tòa, bà N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác ngoài chứng cứ mà Tòa cấp sơ thẩm đã thu thập; Nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại phiên tòa là có căn cứ được chấp nhận.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Lê Thị N phải chịu theo quy định.
Các Quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 điều 241 Luật Tố tụng hành chính.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị N. Giữ nguyên bản án Hành chính sơ thẩm số 127/2022/HCST, ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An,
Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính; Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 1 Điều 76, khoản 1 và khoản 4 Điều 82 Luật Đất đai 2013.
Căn cứ khoản 4, Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Căn cứ Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N về việc yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 15800/QĐ-CT ngày 21/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
- Yêu cầu được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất của phần đất có diện tích 4.174m2 thuộc các thửa 317, 93 cùng tờ bản đồ số 5 và những tài sản khác trên đất đúng qui định, chi phí tôn tạo và các tài sản khác như chi phí ổn định cuộc sống, chi phí di dời, chi phí chuyển đổi ngành nghề.
2. Về án phí Hành chính phúc thẩm: Bà Lê Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001408 ngày 12/10/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Các Quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Trần Văn Mười Dương Tuấn Vinh | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn An |