vanban.org

Bản án 650/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Cẩm H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Cẩm H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T. Giấy chứng nhận kết hôn số 3, quyển số 01/2013 ngày 17/01/2013 do Ủy ban nhân dân Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Cẩm H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 650/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-5-2023
V/v “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Khanh;

2. Bà Lê Thị Tý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1999/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Cẩm H, sinh năm 1981;

Địa chỉ: số C, đường B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có yêu cầu vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1975;

Địa chỉ: số C, đường B, Khu phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 06/12/2022 và bản tự khai ngày 13/02/2023, nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm H trình bày: Bà và ông Nguyễn Hoàng T tự quen biết nhau; sau thời gian tìm hiểu thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 3, quyển số 01/2013 ngày 17/01/2013;

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau bất đồng quan điểm sống về mọi mặt nên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết, xuất phát từ nguyên nhân ông T thường xuyên ăn nhậu về nhà chửi vợ con, hai bên đã ly thân từ năm 2020; đến nay tình cảm không còn bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: BàHồng khai vợ chồng có 01 (một) con chung tên: Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 13/5/2019; con chung hiện đang ở với bà, khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng để nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hoàng T không có mặt theo triệu tập của Tòa án nên không thể ghi nhận được ý kiến của ông T.

Nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu quan điểm: Tòa án đã thực hiện đúng quy định về quá trình thụ lý và giải quyết vụ án; tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục và trình tự phiên tòa quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm H có đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T; bị đơn cư trú tại quận B, Thành phố H nên căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm H có Đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt và bị đơn ông Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông T.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Cẩm H và ông Nguyễn Hoàng T kết hôn, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 3, quyển số 01/2013 ngày 17/01/2013 nên có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp;

Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó có bất đồng quan điểm, phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do ông T thường xuyên ăn nhậu về nhà chửi vợ con; đôi bên đã ly thân, không sống chung từ năm 2020.

Xét, mâu thuẫn vợ chồng của bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó cần chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T, điều này phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: BàHồng khai vợ chồng có 01 (một) con chung tên: Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 13/5/2019; Xét, con chung hiện đang ở với bà H, quá trình giải quyết vụ án ông T không có mặt để cung cấp ý kiến hay lời khai đối với yêu cầu được nuôi con của bà H vì vậy cần xem xét, chấp nhận cho bà H được trực tiếp nuôi dạy con chung là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 13/5/2019. Bà H không có yêu cầu về cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

- Bà Phan Thị Cẩm H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Cẩm H.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Cẩm H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 3, quyển số 01/2013 ngày 17/01/2013 do Ủy ban nhân dân Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị.

1.2. Về con chung: BàHồng được nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 13/5/2019; ông T không phải cấp dưỡng để nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có.

2. Về án phí: Bà Phan Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010397 ngày 22/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; bà H đã nộp đủ án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ