vanban.org

Bản án 65

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] . Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] . Áp dụng khoản 3 điều 7; điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Trọng Q 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/9/2017 đến ngày 29/9/2017 vào thời gian chấp hành hình phạt t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vũ Trọng Quyến- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? [1] . Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
TßA ¸N NH©N D©N
Thµnh phè ®
tØnh l©m ®ång

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________________
B¶n ¸n sè: 65/2018/HSST
Ngµy : 24/5/2018

NH©N DANH

NíC CéNG HßA X· HéI CHñ NGHÜA ViÖT NAM

TßA ¸N NH©N D©N thµnh phè ®, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông PHẠM QUANG VINH

2/. Ông HA TÔNG

- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN ĐỒNG - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà CAO THỊ HỒNG PHƯỢNG - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 24 tháng 5 năm 2018. tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng,xétxửsơthẩm,côngkhaivụánhìnhsựthụlýsố63/2018/HSSTngày02tháng5năm 2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/QĐ-HSST ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: VŨ TRỌNG Q. Tên gọi khác: L. Sinh ngày 02 tháng 12 năm 1967. Nơi sinh: Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT: 109 - N, Phường 2, thành phố Đ, Lâm Đồng. Chỗ ở: Hẻm 27 - L, Phường 4, thành phố Đ, Lâm Đồng (Nhà trọ). Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 10/12. Con ông: Vũ Văn K (chết); Con bà: Nghiêm Thị V (chết). Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1971 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 1994. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: 1/ Tại bản án số 21/HSST ngày 09/5/1982 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản XHCN”; 2/ Tại bản án số 42/HSST ngày 25/4/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/7/2007; 3/ Ngày 24/7/2009 bị Ủy ban nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm 05 - 06 tỉnh Lâm Đồng thời gian 02 năm. Bị bắt ngày 28/9/2017. Thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 29/9/2017. Hiện đang tại ngoại tại Hẻm 27 - L, Phường 4, thành phố Đ, Lâm Đồng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Trọng Q là đối tượng nghiện chất ma túy (Heroin) từ năm 1999, đã 01 lần bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng Q vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy. Ngày 25/9/2017, Vũ Trọng Q xuống huyện Đ, Lâm Đồng mua của một đối tượng tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) 02 gói Methamphetamine và 02 gói Heroin với giá 3.700.000 đồng rồi đem về nhà trọ tại: Hẻm 27 - L, Phường 4, thành phố Đ, Lâm Đồng, lấy ra một ít Heroin để sử dụng, số ma túy còn lại, Q bỏ vào trong 01 giỏ xách, cất giấu trong phòng trọ. Khoảng 10 giờ 00 ngày 28/9/2017, khi Q đang ở tại phòng trọ thì Công an thành phố Đ, Lâm Đồng kiểm tra phòng trọ, phát hiện Vũ Trọng Q đang tàng trữ: 02 gói nilon bên trong chứa chất ở dạng tinh thể màu trắng; 02 gói nilon bên trong chứa chất dạng cục bột màu trắng; 01 bình có gắn ống dùng sử dụng ma túy và 01 Thẻ điều trị Methadone mang tên Vũ Trọng Q.

Tại Kết luận giám định số 1602/GĐ-PC54 ngày 29/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 02 gói nilon được niêm phong gởi giám định có khối lượng 0,4726 gam là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ; Mẫu chất dạng cục bột màu trắng đựng trong 02 gòi nilon được niêm phong gởi giám định có khối lượng 07,4162 gam là Heroin. Heroin là chất ma túy nằm trong danh mục 1, STT 20 Nghị định 82/2013/ NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trọng Q không thắc mắc hay khiếu nại gì về Kết luận của Cơ quan giám định nói trên và khai nhận vào ngày 25/9/2017 bị cáo đã có hành vi mua Methamphetamine và Heroin của một đối tượng tên T (không rõ lai lịch) tại huyện Đ, Lâm Đồng, sau đó đem lên Đ tàng trữ để sử dụng và đến ngày 28/9/2017, khi bị cáo đang tàng trữ số ma túy đã mua tại phòng trọ thì bị Công an thành phố Đ, Lâm Đồng kiểm tra, bắt giữ, thu giữ số ma túy Q đang tàng trữ gồm 0,4726 gam Methamphetamine và 7,4162 gam Heroin, với các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.

Tại Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 27/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng truy tố Vũ Trọng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Trọng Q đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, không có nội dung gì thay đổi. Hành vi của bị cáo tàng trữ 0,4726 gam Methamphetamine chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 nên Viện kiểm sát không truy tố mà đã đề nghị Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt hành chính. Hành vi của bị cáo tàng trữ 7,4162 gam Heroin có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Trọng Quyến từ 07 đến 08 năm tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật. Bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Trọng Q: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên biết rất rõ việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy, trong đó có Heroin là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo mua và tàng trữ 7,4162 gam Heroin với mục đích để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Biên bản phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Trọng Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, do hành vi của bị cáo được thực hiện trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, lẽ ra áp dụng điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo nhưng vì lý do điểm h khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 qui định mức hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là chất Heroin nặng hơn qui định tại khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nên căn cứ khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, áp dụng điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và các qui định có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để xét xử bị cáo như Cáo trạng và kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo tàng trữ ma túy với khối lượng 7,4162 gam Heroin. Thuộc tình tiết định khung tăng nặng được qui định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo phải bị xét xử theo điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2915.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào theo qui định tại điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 cũng như điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét hiện bị cáo không có việc làm, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được bị cáo có thu nhập gì từ việc Tàng trữ trái phép chất ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Các loại vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm có:

+ Hai phong bì đã được niêm phong, trong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trước khi giám định, một bình có gắn ống dùng để sử dụng ma túy, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

+ Một Thẻ điều trị Methadone, là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến việc tàng trữ ma túy nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] . Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] . Áp dụng khoản 3 điều 7; điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Trọng Q 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/9/2017 đến ngày 29/9/2017 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[3]. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì đã niêm phong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trước khi giám định và 01 bình có gắn ống dùng để sử dụng ma túy.

+ Trả lại cho bị cáo: Một Thẻ điều trị Methadone mang tên Vũ Trọng Q.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ ngày 02/5/2018).

[4]. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ