vanban.org

Bản án 65

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 30/06/2022 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Quang S phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 65/2022/HS-PT
Ngày: 30-6-2022

NHÂN DANH

M

M

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Hồng.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Ông Đặng Ngọc ình

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý S 59/2022/TLST-HS ngày 05/4/2022 với các bị cáo Lê Quang S, K’ T, do có kháng cáo của các bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 14/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo có kháng cáo.

1. Lê Quang S, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1979, tại Lâm Đồng; nơi cư trú: Tổ 5, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lê L, sinh năm 1939 và bà Lê Thị Ch, sinh năm 1939; vợ: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1991; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: n án s 177/HSST ngày 23/12/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt Lê Quang S 30 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 02/9/2004. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt tại phiên tòa)

2. K’ ( ạp D), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978, tại Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn 4, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: K’Ho; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; qu c tịch: Việt Nam; con ông K’D (đã chết) và bà Ka P (đã chết); vợ: Ka R, sinh năm: 1976; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại tại Thôn 4, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt tại phiên tòa).

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào kho ng đ u năm 2020, Lê Quang S xem trên kênh outube có đăng Video clip hướng d n mua từng bộ phận, linh kiện của khẩu súng và lắp thành khẩu súng hoàn thiện. Thấy vậy, Lê Quang S đã đặt mua từng bộ phận, linh kiện khẩu súng trên mạng Internet, cụ thể: Vào kho ng tháng 3, tháng 4/2020 S đặt mua ng ngắm khẩu súng với giá 3.500.000 đồng, đến tháng 6/2020 S đặt mua nòng súng với giá 6.000.000 đồng, kho ng tháng 8/2020 S đặt mua bộ khung (gồm thân súng và cò súng) với giá 4.000.000 đồng, đến kho ng tháng 11, tháng 12/2020 S đặt mua báng súng, gi m thanh và 10 (mư i) viên đạn với giá 1.500.000 đồng. Việc giao nhận các linh kiện, bộ phận của súng b ng hình th c Ship COD (giao hàng tr tiền). Sau khi mua đ y đủ các bộ phận, linh kiện súng, kho ng đ u năm 2021, S tự lắp ráp hoàn thiện khẩu súng và lấy 01 viên đạn nạp vào súng bắn thử vào b c tư ng nhà thấy đạn nổ, súng hoạt động được. Sau đó, S bỏ khẩu súng vào túi v i màu xanh và cất giấu ở góc nhà nơi để các công cụ, dụng cụ làm nông của gia đình mình tại tổ 5, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Kho ng hơn 16 gi 30 phút ngày 24/6/2021, K’T điều khiển xe máy hiệu Jupiter đến nhà Lê Quang S chơi và được S rủ đi săn bắn gà rừng thì K’T đồng ý. Sau đó, S lấy khẩu súng được đựng trong chiếc túi v i màu xanh, 06 (sáu) viên đạn thể thao và 01 cái đèn pin loại lắp một pin tiểu, vỏ màu đen, dài kho ng 20cm rồi điều khiển xe máy hiệu amaha Sirius của S chở K’T ngồi sau ôm khẩu súng vào khu vực r y Xã thuộc thôn 9, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để tìm gà rừng bắn. Khi vào đến nơi, c hai ngồi ch một lúc đến kho ng 19 gi 30 phút cùng ngày nhưng không thấy có con gà rừng nào nên S chở K’T quay về. Trên đư ng về, S c m đèn pin soi phía trước theo hướng đi thì phát hiện bên tay trái trong vư n cà phê có đ m sáng gi ng như mắt con mèo rừng nên S dừng xe lại và soi kỹ về hướng đ m sáng, sau đó S đưa đèn pin cho K’T và nói “Soi cho m nh b n”. K’T đồng ý c m đèn pin soi về hướng đ m sáng để con vật bắt ánh đèn chóa mắt không chạy đi để cho S bắn. Khi c m đèn pin soi về hướng con thú thì K’T phát hiện cách con thú kho ng hai mét có một căn chòi nhưng không có đèn sáng nên ngh trong chòi không có ngư i. Còn S lấy khẩu súng rồi nạp đạn vào súng và ngắm về phía mắt con thú bắn, đạn nổ nhưng đ m sáng v n còn quanh quẩn bên g c trà (chè) nên K’T nói với S “N v n còn đ ”. S lấy vỏ đạn ra và nạp đạn mới vào rồi tiếp tục ngắm về phía mắt con thú bắn phát súng th hai. Sau khi bắn viên đạn th hai, được kho ng một đến hai phút thấy có ánh đèn trong chòi g n đó bật sáng và có tiếng trẻ em vừa khóc, vừa nói “B n trúng bố rồi” (b ng tiếng đồng bào) nên K’T nói với S “Ch c lạc đạn trúng người rồi, chạy đi” nhưng S không bỏ chạy mà điều khiển xe máy vào chỗ chòi thì có hai đ a trẻ nói “ ố bị trúng đạn”. S chạy vào trong chòi thấy có một ngư i đàn ông n m im trên tấm ph n gỗ, bên hông trái có một lỗ nhỏ, máu ch y ra, S biết đã bắn súng lạc đạn trúng ngư i này. Sau đó, S điều khiển xe máy chạy ra chỗ K’T đ ng và nói K’T vào phụ chở ngư i đi cấp c u nhưng K’T ho ng sợ và bỏ chạy, trên đư ng chạy, K’T đã v t bỏ chiếc đèn pin. Thấy K’T bỏ chạy, S tiếp tục điều khiển xe máy quay lại chòi kiểm tra thì thấy ngư i đàn ông đã tắt thở nên không đưa đi cấp c u nữa và nói với hai đ a trẻ ở lại chòi ch . Sau đó, S điều khiển xe máy đến Công an huyện D để tự thú, giao nộp toàn bộ tang vật còn lại và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đến sáng ngày 25/6/2021, K’T cũng tự nguyện đến Công an huyện D để đ u thú và khai nhận hành vi của mình.

Vật ch ng thu giữ, gồm: 01 (một) khẩu súng có kích thước tổng thể 24,4cm x 102,9cm b ng kim loại, có dây đeo, p tay c m và tay c m làm b ng gỗ màu nâu, báng súng b ng nhựa màu đỏ đen, có thể gấp gọn được, bộ phận khóa nòng có kí tự “105”, nòng súng có ký tự “C MP ”; bộ phận gi m thanh b ng kim loại màu đen, hình trụ tròn, kích thước cao 14,5cm, đư ng kính ngoài 2,6cm. Trên báng súng có dòng chữ “Made in MGPCQ ”, “Python uttstock”. Trên bộ phận ng ngắm có ký tự “DISCOVER HI 4-14X44SF”; 04 (b n) viên đạn b ng kim loại, vỏ màu trắng bạc, đ u đạn màu vàng đồng mũi tù, mỗi viên có đư ng kính 5,6mm, cao 2,5cm, mặt ngoài đáy viên đạn có ký hiệu “S ”; 01 (một) vỏ đạn b ng kim loại dài 15,5mm, đư ng kính trong 5,5mm, đư ng kính ngoài 5,9mm, đư ng kính đáy vỏ đạn 6,9mm, đáy vỏ đạn có dấu vết đập của kim hỏa và 01 (một) vật thể b ng kim loại đã bị biến dạng màu xám và màu cam, kích thước (10 x 5,6)mm. Đây là vũ khí quân dụng nên đang được gửi b o qu n tại kho quân khí thuộc ộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng c u giám định đ i với khẩu súng và các viên đạn do Lê Quang S sử dụng. Tại Kết luận giám định s 655/GĐ-PC09 ngày 05/7/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận:

+ Vật dạng súng dài có kích thước tổng thể 24,4cm x 102,9cm gửi giám định là súng tự chế cỡ nòng 2,6cm, thuộc vũ khí quân dụng. Khẩu súng hiện còn sử dụng để bắn được.

+ n (04) viên đạn b ng kim loại vỏ màu trắng bạc, đ u đạn b ng kim loại màu vàng đồng mũi tù, mặt ngoài đáy viên đạn ký hiệu “S ”, mỗi viên có đư ng kính 5,5cm, cao 2,5cm, gửi giám định không ph i là vũ khí quân dụng (là đạn thể thao cỡ 5,6 x 15,6mm và lắp được cho khẩu súng gửi giám định kèm theo).

+ Một (01) vật kim loại dạng đ u đạn (ký hiệu A1) và một (01) vỏ đạn (ký hiệu A2) gửi giám định là đ u đạn và vỏ đạn được bắn ra từ khẩu súng dài kích thước tổng thể 24,4cm x 102,9cm gửi giám định kèm theo và cùng loại với b n (04) viên đạn thể thao cỡ 5,6 x 15,6mm gửi giám định nói trên.

- Ngoài ra, cơ quan điều tra còn tạm giữ một (01) túi v i màu xanh lá cây, kích thước 26cm x 77cm.

Cơ quan C nh sát điều tra tiến hành khám nghiệm tử thi ông K’ , xác định: Mạn sư n trái (cách h m nách xu ng 19,5cm, cách mũi c qua trái 21cm) có một vết thủng da kích thước 0,6cm x 0,4cm, trong miệng vết thương có một m nh kim loại màu xám bạc kích thước 0,2cm x 0,3cm. Tràn máu khoang ngực trái (trong khoang ngực trái nhiều máu loãng l n máu đông). Vết thương mạn sư n trái xuyên qua khe gian sư n 8, 9 qua dạ dày, cơ hoành vào động mạch chủ ngực và ghim vào đ t s ng ngực 5 (do 01 vật thể kim loại). Tại n kết luận giám định pháp y về tử thi s 159/2021-TT ngày 29/6/2021 của Trung tâm pháp y Sở tế tỉnh Lâm Đồng, kết luận nguyên nhân chết của K’ : Trụy tim mạch - Suy hô hấp do vết thương hỏa khí.

Cơ quan C nh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng tiến hành khám nghiệm hiện trư ng tại chòi tôn trông coi cà phê của nhà ông K’ và đoạn đư ng đất g n vư n thuộc Thôn 9, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Kết qu khám nghiệm xác định: Vách tôn bên ph i của chòi, cách đất lên 60cm, cách góc chòi trước bên ph i về sau 10cm thấy có một lỗ thủng tôn đư ng kính 05mm, kèm vết rách kim loại; Chòi có một cửa chính b ng tôn, tại vách tôn của cánh cửa cách đất lên 34,5cm, cách góc chòi trước bên ph i về sau bên trái 13cm thấy có một lỗ thủng tôn đư ng kính 05mm, kèm theo vết rách kim loại; Vách tôn bên trái của chòi, cách đất lên 38cm, cách góc chòi trước bên trái về sau 182cm thấy có một lỗ thủng tôn đư ng kính 05mm, kèm theo vết rách kim loại; phía trong chòi tại vách sau có một Ph n gỗ kích thước 2,1m x 1,4m, cao cách nền 0,60m, trên mặt ph n thấy tử thi K’ iển chết trong tư thế n m ngửa; vách tôn bên trái chòi có kho ng hở tôn chân vách 19cm; trên đoạn đư ng đất phía trước chòi, cách vị trí chòi 95,8m thấy 01 (một) vỏ đạn kim loại dài 15,5mm, đư ng kính trong 5,5mm, đư ng kính ngoài 5,9mm, đư ng kính đáy vỏ đạn 6,9mm, đáy vỏ đạn có dấu vết đập của kim ho .

Cơ quan giám định sử dụng 02 (hai) viên đạn để giám định.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại yêu c u bồi thư ng các kho n tiền gồm: Chi phí mai táng cho ông K’ s tiền 172.640.000 đồng; tiền tổn thất tinh th n cho gia đình ông K’ s tiền 500.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng nuôi b n con của ông K’ đến khi các cháu đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật. Các bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thư ng khắc phục cho gia đình bị hại được s tiền 150.000.000 đồng (bị cáo S bồi thư ng 100.000.000 đồng và bị cáo K’T bồi thư ng được 50.000.000 đồng).

Cáo trạng s 25/CT-VKSLĐ-P1 ngày 12/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy t bị cáo Lê Quang S về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, truy t bị cáo K’T về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm c kho n 2 Điều 304 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt BLHS 2015).

Tại B n án hình sự sơ thẩm s 14/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện D đã xử;

Tuyên b bị cáo Lê Quang S phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. ị cáo K’T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c kho n 2 Điều 304; các Điều 17, 38, 50; 58 điểm b, s, r kho n 1 Điều 51 ộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quang S 07 (b y) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/6/2021.

Áp dụng điểm c kho n 2 Điều 304; Điều 17, 38, 50; 58 điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 ộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo K’T 05 (năm) năm tù, Th i hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, b n án còn gi i quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật ch ng và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/3/2022 bị cáo Lê Quang S kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.

Ngày 28/02/2022 bị cáo K’ T kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Các bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn h i c i, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung B n án hình sự sơ thẩm s 14/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện D đã tuyên xử đ i với các bị cáo. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử (sau đây viết t t là HĐXX) phúc thẩm xem xét gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không xuất trình thêm tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới.

Các bị cáo nói l i sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử gi m nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên giữ quyền công t tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đề nghị HĐXX căn c vào điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật t tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm.

Ậ Ị

:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét đơn kháng cáo của các bị cáo gửi đến Toà án trong hạn luật định nên th i hạn kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, nội dung của bị cáo S kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt; nội dung kháng cáo của bị cáo Tâm cho r ng, b n thân không sử dụng vũ khí, chỉ đi theo chơi, m c hình phạt b n án sơ thẩm là quá nặng.

[2] Vào năm 2020 Lê Quang S thông qua mạng outube mua linh kiện và lắp thành khẩu súng hoàn thiện. Sau khi bắn thử thì thấy đạn nổ, súng hoạt động được. Sau đó, bị cáo S để khẩu súng trong túi v i màu xanh cất giấu ở góc nhà của bị cáo ở Tổ 5, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Đến t i ngày 24/6/2021, S cùng K’T mang khẩu súng quân dụng nói trên đi săn gà rừng, trên đư ng đi về thì phát hiện có đ m sáng nên S và K’ T dừng lại; K’ T dùng đèn pin soi vào đ m sáng còn S lắp đạn ngắm và bắn hai phát vào đ m sáng. Khi nghe tiếng trẻ con khóc, S chạy vào trong chòi thấy có một ngư i đàn ông n m im trên tấm ph n gỗ, bên hông trái có một lỗ nhỏ, máu ch y ra, S biết đã bắn súng lạc đạn trúng ngư i này nên S gọi K’ T cùng chạy vào chòi đưa nạn nhân đi cấp c u, nhưng K’ T bỏ chạy về nhà. Do vết thương bị đạn trúng vào ch y máu nhiều, không cấp c u kịp th i nên nạn nhân K’ tử vong.

Kết luận giám định s 655/GĐ-PC09 ngày 05/7/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, xác định khẩu súng do Lê Quang S tự chế và cùng sử dụng với K’ T thuộc vũ khí quân dụng. Đồng th i, Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Lâm Đồng kết luận nguyên nhân chết của ông K’ “Trụy tịm mạch - Suy hô hấp do vết thương hỏa khí”. (theo Kết luận giám định pháp y về tử thi s 159/2021-TT ngày 29/6/2021)

[3] Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như b n án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện D đã xét xử, bị cáo K’ T trình bày bị cáo chỉ đi theo bị cáo S chơi và không có dùng súng bắn vào K’ , m c án b n án sơ thẩm đ i với bị cáo là quá nặng và đề nghị HĐXX gi m nhẹ hình phạt. Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo được b n án sơ thẩm phân tích, đánh giá, tuyên b bị cáo Lê Quang S phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo K’T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại điểm c kho n 2 Điều 304 BLHS 2015 là có căn c , đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của các bị cáo; HĐXX thấy r ng, qua l i khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, khi quyết định hình phạt, b n án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s kho n 1 Điều 51 LHS 2015. Bị cáo S sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự thú nên được áp dụng thêm điểm r kho n 1 Điều 51 LHS 2015, xử phạt bị cáo Lê Quang S 07 năm tù; xử phạt bị cáo K’ T 05 năm tù là có xem xét đ y đủ các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự đ i với từng bị cáo nh m răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trong đấu tranh, phòng ch ng tội phạm. Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình thêm ch ng c về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn c để HĐXX xem xét gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Từ những nhân định trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm.

[5] Về án phí: Do không chấp nhận yêu c u kháng cáo nên các bị cáo ph i chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾ Ị :

Căn c điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 ộ luật T tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Quang S, K’ T, giữ nguyên B n án hình sự sơ thẩm s 14/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện D.

Xử:

1.Về tội danh: Tuyên b : ị cáo Lê Quang S phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. ị cáo K’T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

2.Về hình phạt: Áp dụng điểm c kho n 2 Điều 304; Điều 17, 38, 50; 58 điểm b, s, r kho n 1 Điều 51 ộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Quang S 7 (b y) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/6/2021.

Áp dụng điểm c kho n 2 Điều 304; Điều 17, 38, 50; 58 điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 ộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo K’T 05 (năm) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135 ộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thư ng vụ Qu c hội về án phí và lệ phí Tòa án. uộc bị cáo Lê Quang S, K’ T, mỗi bị cáo ph i chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, hết th i hạn kháng nghị.

n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ