- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quốc H - Tàng trữ ttrái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 65/2026/HSST Ngày: 07/9/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH LÂM ĐỒNG
[
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Đinh Thị Thuận và bà Lê Thị Hòa
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2026/QĐXXST-HS ngày 14/8/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2026/HSST-QĐ ngày 28/8/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Quốc H, CCCD: 067096005736, sinh năm 1996 tại thành phố Đà N; HKTT và chỗ ở: thôn Phú T, xã Quảng P, tỉnh Lâm Đ; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quốc H, sinh năm 1978 và bà Lê Thị Minh C, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/01/2024, bị công an xã Đắk Nang, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông cũ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, số tiền phạt: 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/01/2026, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Cư Jút, Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lâm Đồng - có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Nguyễn Hoài S, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn Phú T, xã Quảng P, tỉnh Lâm Đ - vắng mặt.
2/ Bà Bùi Thị Lệ H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn Phú T, xã Quảng P, tỉnh Lâm Đ - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 10 giờ 00 ngày 20/01/2026 Nguyễn Hoài S đến nhà Bùi Quốc H trú cùng thôn để chơi cùng H. Sau đó S và H sang nhà bà Bùi Thị Lệ H sát nhà H (bà H đi làm ăn xa, nên H thường xuyên qua ở và trông coi nhà cho cô ruột) để chơi trò chơi điện tử (game) trên điện thoại.
Trong lúc chơi game, H có liên lạc qua mạng xã hội Facebook với 1 đối tượng có tên tài khoản là “Trần Thư Lâm H” (là nam giới – không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua ma túy đá về chơi, người này nói H chuyển tiền trước vào số tài khoản ngân hàng qua mã QR, rồi đi lên khu vực Rừng Lạnh Quảng Sơn sẽ chỉ chỗ cho lấy ma túy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H mượn xe mô tô của bà H đi đến điểm hẹn với người bán ma túy, trên đường đi, H ghé vào tiệm tạp hóa gần chợ Quảng Phú nhờ chuyển số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng mà người này cung cấp (bằng cách quét mã QR) rồi đi lên khu vực Rừng Lạnh Quảng Sơn và tiếp tục gọi điện qua ứng dụng Messenger cho “H”, thì được chỉ dẫn “em chạy tới cái miếu anh bỏ đồ trong gói Sài gòn bạc”. H đến vị trí do người này chỉ, thấy gói thuốc là Sài gòn bạc để dưới đất cạnh miếu, thì nhặt lấy cầm trên tay và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đi được khoảng 500m thì H dừng lại mở bao thuốc lá ra kiểm tra thấy có gói ma túy bên trong, H cất gói ma túy trong túi quần, còn vỏ bao thuốc lá vứt bên vệ đường, rồi điều khiển xe mô tô chạy về đến nhà bà H khoảng hơn 16 giờ 00 cùng ngày.
H đi vào trong phòng ngủ thứ nhất hướng từ cửa chính đi vào, chia đều gói ma túy mới mua làm 02, đồng thời hàn kín 01 một gói cất vào trong túi quần để lần sau sử dụng tiếp. Sau đó H lấy ra 01 bộ coóng (tên thường gọi là bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà H chuẩn bị và cất giấu từ trước trong phòng ngủ nhà bà H) rồi đổ ma túy từ gói còn lại vào cóng thủy tinh dùng hộp quẹt gar khò đốt phía dưới cho ma túy nóng chảy, bốc khói rồi dùng miệng hút ba hơi. Sau đó H gọi Sơn đang ngồi trên ghế ngoài phòng khách vào để sử dụng ma túy. Khi Sơn vào, H đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà H đã đốt có sẵn ma túy cho S, rồi H đi ra ngoài phòng khách ngồi trên ghế. S hút 01 hơi rồi đi ra ngoài đường nghe điện thoại của vợ S gọi rồi quay lại phòng, thì lực lượng Công an vào lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình bắt quả tang H thành khẩn khai báo và tự nguyện giao nộp 02 (Hai) túi nilon bên trong có chứa ma túy, trong đó một túi được H lấy từ dưới bàn trong phòng khách (gói này đã được H đổ vào coóng để sử dụng) bên trong còn dính một ít ma túy đá), một túi được hàn kín 02 đầu và cất trong túi quần H.
Qua test nhanh, Bùi Quốc H và Nguyễn Hoài S và bà Bùi Thị Lệ H dương tính với chất ma túy tổng hợp.
Tại bản kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 26/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận:
+ Mẫu tinh thể màu trắng đựng trong gói nilon hàn kín (ký hiệu M1) đựng trong gói nilon kích thước (02x1,5)cm được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0081 gam.
+ Mẫu tinh thể màu trắng đựng trong gói nilon hàn kín (ký hiệu M2) đựng trong gói nilon kích thước (03x1,8)cm được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1749 gam.
+ Hộp giấy: chứa Mẫu chất rắn màu trắng đục (ký hiệu M3) bám dính trong ống thủy tinh hình cầu được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0367 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- 02 túi nilong bên trong có chứa ma túy;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo đã qua sử dụng.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-KV9 ngày 06 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng truy tố bị cáo Bùi Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Bùi Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị tuyên phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị tuyên phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt đề nghị tuyên buộc bị cáo phải chấp hành từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu 01 điện thoại di động mà bị cáo Bùi Quốc H sử dụng để liên lạc mua ma túy và tổ chức sử dụng ma túy trái phép.
Tịch thu tiêu hủy 02 gói ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy (hoàn lại sau giám định, đã được niêm phong)
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Khoảng 11 giờ ngày 20/01/2026, Bùi Quốc H đã liên lạc với một người (chưa rõ nhân thân lai lịch) qua mạng xã hội Facebook để hỏi mua ma tuý đá. Sau khi chuyển tiền cho người này và đi đến điểm hẹn để lấy ma tuý, H mang về nơi ở của mình tại thôn Phú Tân, xã Quảng Phú, tỉnh Lâm Đồng chia gói ma túy vừa mua được ra thành 02 gói, H hàn kín 01 gói cất vào túi quần để lần sau sử dụng tiếp, gói còn lại H đổ vào bộ dụng cụ để sử dụng, trong khi sử dụng ma túy, H cho Nguyễn Hoài Sơn cùng sử dụng, thì bị cơ quan điều tra bắt quả tang, thu giữ 0,2197 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Như vậy H là người cung cấp ma túy, phương tiện để đi lấy ma túy, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, là người cung cấp địa điểm sử dụng ma túy và chế biến ma túy để sử dụng. Thời điểm thực hiện hành vi bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Ngoài ra số ma túy mua về H chia thành hai phần riêng biệt, đồng thời đã đóng kín một phần và cất vào người. Tổng khối lượng ma túy thu được tại nơi ở của Hải là 0,2197 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Do đó đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
...
c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
Điều 255. Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
...
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về nhân thân: Ngày 21/01/2024, bị cáo bị công an xã Đắk Nang, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông cũ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, số tiền phạt: 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), bị cáo chưa chấp hành hình phạt, nhưng hiện nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên bị cáo bị ghi nhận có nhân thân xấu, đây là tình tiết xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ những vấn đề phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định được:
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo đã qua sử dụng bị cáo Bùi Quốc Hải sử dụng để liên lạc mua ma túy và tổ chức sử dụng ma túy trái phép do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước
- 02 gói ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành do đó cần tịch thu tiêu hủy
Những vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng có tên tài khoản Facebook là “Trần Thư Lâm Hà” là đối tượng bán ma túy cho bị cáo Bùi Quốc H. Quá trình điều tra xác định việc mua bán giữa H và đối tượng qua ứng dụng Messenger, trong lúc nhắn tin, H và đối tượng sử dụng tính năng tự hủy tin nhắn. Vì vậy, khi kiểm tra điện thoại không thu thập được tài liệu số tài khoản ngân hàng, bị cáo Hải không nhớ quán tạp hoá khi đang trên đường đi đến điểm hẹn nhận mua ma tuý, do đó không xác định được quán tạp hoá Hải nhờ chuyển tiền để kiểm tra dữ liệu sao kê tài khoản ngân hàng. Do đó chưa xác định được ai là người nhận tiền trong giao dịch chuyển khoản mà Hải đã thực hiện. Vì vậy, chưa đủ tài liệu để xác định đối tượng bán ma tuý cho Hải. Cơ quan điều tra tiếp tục phối hợp Công an xã Quảng Sơn xác minh các đối tượng nghi vấn, khi phát hiện đối tượng thì xử lý theo quy định.
Đối với Bùi Thị Lệ H, quá trình bắt quả tang cơ quan điều tra phát hiện H đang ở phòng bếp nên tiến hành test nhanh và phát hiện Huyền dương tính với chất ma túy tổng hợp. Qua xác minh, sáng ngày 20/01/2026, Huyền mới từ Đình Văn Lâm Hà về lại xã Quảng Phú. Đêm ngày 19/01/2026, Huyền có đi chơi cùng nhóm bạn tại Lâm Hà và có hút thử thuốc lá điện tử, không biết đó là ma túy. H không phải là đối tượng quản lý người sử dụng ma túy tại địa phương, không xác định được H sử dụng ma túy ở đâu. Cơ quan điều tra đã chuyển công an xã Quảng Phú ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huyền là đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Hoài S vào ngày 20/01/2026 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua xác minh S không phải đối tượng quản lý sau cai nghiện, không phải đối tượng trong diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý, không trong thời gian cai nghiện ma tuý. Do đó, chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Sơn. Cơ quan điều tra đã chuyển công an xã Quảng Phú ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoài S là đúng quy định pháp luật
Về án phí: Bị cáo Bùi Quốc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Quốc H 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/01/2026.
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo đã qua sử dụng
- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy (hoàn lại sau giám định, đã được niêm phong).
(Hiện vật chứng đang do Công an xã Quảng Phú, tỉnh Lâm Đồng bảo quản)
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Bùi Quốc H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: - Bị cáo Bùi Quốc H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Lệ H có mặt có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoài S vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 2, 36, 72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 9 - Lâm Đồng; - Phòng THADS khu vực 9 - Lâm Đồng; - Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |