- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tướng Thị Nh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Tướng Thị N được ly hôn anh Đặng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2026/HNGĐ-ST Ngày: 19-5-2026 V/v:“Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Vinh và bà Nguyễn Thị Nga
-Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Thịnh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2-Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 –Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2026/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2026 về: Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2026/QĐXX-ST ngày 06 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 34/TB-TA ngày 28 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Tướng Thị N, sinh năm 2002; CCCD: xxxxxxxxxxxx
Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1994; CCCD: xxxxxxxxxxxx
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Lào Cai
(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - Chị Tướng Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị chung sống với anh Đặng Văn T vào năm 2019, trên cơ sở có được tự nguyện, không ai cưỡng ép. Đến ngày 14-9-2021 thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái cũ (nay là xã T, tỉnh Lào Cai). Quá trình chung sống vợ chồng không hoà thuận, hạnh phúc. Vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên uống rượu về gây sự, đánh đập chị. Hai bên đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh T không còn và đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn T.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 08-9-2019 và Đặng Thùy V, sinh ngày 04-8-2021. Chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Kể từ khi sống ly thân, chị đã đưa hai con chung về ở cùng với ông, bà ngoại là Tướng Văn K và Bàn Thị M ở tại Thôn Đ, xã T, tỉnh Lào Cai sinh sống, bố mẹ có nhà ở và còn trẻ có đủ sức khoẻ và vẫn lao động được sẽ hỗ trợ chị trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu.
Về chia tài sản, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81,82,83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tướng Thị N để xử cho chị Tướng Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn T; Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 08-9-2019 và Đặng Thùy V, sinh ngày 04-8-2021cho chị Tướng Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Đặng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con; Về án phí: Chị Tướng Thị N phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Đặng Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã T, tỉnh Lào Cai nên yêu cầu ly hôn của chị Tướng Thị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai.
Chị Tướng Thị N và anh Đặng Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai xét xử vắng mặt các đương sự theo điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tướng Thị N và anh Đặng Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai) ngày 14-9-2021, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Tướng Thị N xác định vợ chồng chung sống có mâu thuẫn do anh T thường xuyên uống rượu về gây sự, đánh đập chị. Thực tế vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Mặc dù, Tòa án đã triệu tập anh T đến để hòa giải nhưng anh T không đến, cho thấy anh T không có thiện chí hòa giải. Từ đó có căn cứ cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Tướng Thị N và anh Đặng Văn T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Tướng Thị N là có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Tướng Thị N được ly hôn anh Đặng Văn T.
Về nuôi con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 08-9-2019 và Đặng Thùy V, sinh ngày 04-8-2021. Toà án đã triệu tập anh T đến Toà nhưng anh T không hợp tác, không thể hiện ý chí về việc nuôi con chung. Mặt khác, chị N và mẹ đẻ của chị N đã xác nhận, kể từ khi vợ chồng chị N và anh T sống ly thân thì các con chung đều do chị N chăm sóc, bà Bàn Thị M cũng có lời trình bày sẽ hỗ trợ chị N trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chưa thành niên cần giao hai con chung cho chị Tướng Thị N là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị Tướng Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện, thực tế khách quan của các đương sự nên chấp nhận.
Về án phí: Chị Tướng Thị N phải chịu án phí DSST.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Tướng Thị N được ly hôn anh Đặng Văn T.
2.Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 08-9-2019 và Đặng Thùy V, sinh ngày 04-8-2021 cho chị Tướng Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Đặng Văn T không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị Tướng Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số: 0000600 ngày 26-02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh L (Chị N đã nộp đủ án phí).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 2 - Lào Cai; - THADS khu vực 2- Lào Cai; - UBND xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai; - Các đương sự; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Lê Thị Thanh Nga |