vanban.org

Bản án 65/2026/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N ly hôn bà Nguyễn Thị H. Giấy chứng nhận kết hôn số 152, đăng ký ngày 11/8/2016 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh (nay là phường Trung Mỹ Tây, thành phố Hồ Chí Minh) giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N hết hiệu lực kể từ ngày bản án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn Ngh-H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2026/HN&GĐ-ST
Ngày: 06-7-2026
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Đức Binh.

2/ Bà Lê Thị Phương Ly.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 108/2026/TLST-HN&GĐ ngày 09 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2026/QĐXXST-HN&GĐ ngày 29 tháng 05 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2026/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Số 114/11 Tân Chánh Hiệp, phường TMT, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985;

Nơi cư trú: Số 20, đường số 4, thôn Đức Hạnh 2 (nay là thôn Đắc Thọ), xã H Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Ông N và bà H kết hôn với nhau vào ngày 11/8/2016 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, Tp. Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, ông N và bà H phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống khác nhau, mặc dù hai bên đã rất cố gắng để hòa hợp nhưng càng lúc càng xảy ra nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn kéo dài khiến mục đích của hôn nhân không đạt được và từ tháng 08/2019 đến nay ông bà đã ly thân. Do đó, ông N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn chị H.

Về con chung: Ông N và bà H có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Đức A, sinh ngày 27/4/2017. Sau khi ly hôn, ông N yêu cầu được quyền nuôi con chung, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện quyền, N vụ đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, N vụ được quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Nguyễn Văn N ly hôn bà Nguyễn Thị H.

2. Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Văn N quyền, N vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Đức A, sinh ngày 27/4/2017.

3. Ghi nhận ý kiến tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu giải quyết tranh chấp về cấp dượng, chia tài sản khi ly hôn và nợ.

4. Buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định.

(có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Nguyễn Văn N khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn Nguyễn Thị H; bị đơn có nơi thường trú tại thôn Đức Hạnh 2, xã Hoài Đức, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

Về hôn nhân: Ông N và bà H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến hôn nhân vào năm 2016, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh (nay là phường Trung Mỹ Tây, thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, ông N và bà H sống chung với nhau được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo lời khai của ông N là do ông N và bà H không cùng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, dấn đến ly thân với nhau trong thời gian dài (từ năm 2019 cho đến nay). Qua kết quả xác minh đối với người thân của bà H cho thấy giữa bà H và ông N có mâu thuẫn với nhau trong thời kỳ hôn nhân.

Từ những phân tích trên cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N đối với bà H.

Về con chung: Căn cứ bản sao trích lục khai sinh số 517/TLKS-BS ngày 16/5/2017 của Ủy ban nhân dân phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh (nay là phường Trung Mỹ Tây, thành phố Hồ Chí Minh) thì có căn cứ pháp lý để khẳng định cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 27/4/2017 là con chung của ông Nguyên Văn N và bà Nguyễn Thị H.

Sau khi ly hôn ông N yêu cầu được quyền nuôi con chung; Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của bà H về việc nuôi con chung. Tuy nhiên, tại bản khai lập ngày 25/5/2026, cháu A nêu nguyện vọng được sống chung với ông N sau khi ông N và bà H ly hôn.

Nhận thấy, hiện tại cháu Ân đang sinh sống ổn định cùng ông N, do đó việc thay đổi môi trường sống, môi trường học tập ít nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến cháu; mặt khác cháu Ân là nam nên việc sống cùng cha sẽ giúp cháu phát triển tốt hơn về mặt tâm sinh lý, ông N có sức khỏe và không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên; do đó, sau khi xem xét quyền lợi về mọi mặt cũng như nguyện cọng của cháu Ân, Hội đồng xét xử quyết định giao cho ông N quyền, N vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung là phù hợp với quy định tại khoản Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con, tranh chấp chia tài sản và nợ khi ly hôn: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N ly hôn bà Nguyễn Thị H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 152, đăng ký ngày 11/8/2016 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh (nay là phường Trung Mỹ Tây, thành phố Hồ Chí Minh) giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Văn N quyền, N vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Đức A, sinh ngày 27/4/2017.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, N vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tranh chấp chia tài sản và nợ khi ly hôn: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn N phải nộp số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006282 ngày 09/4/2026. Ông Nguyễn Văn N đã nộp đủ tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ