- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2025/HS-ST Ngày: 11/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu In
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Liễu
- Bà Chung Kim Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Quách Hùng T, sinh ngày 29/5/1980, tại R, tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang); Nơi cư trú: số 246, đường N, khu phố 3, phường R, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách T1 và bà Phạm Thị Mỹ D; vợ: Lê Thị Thuỳ T2 (đã ly hôn); con ruột có 01 người, sinh năm 2000.
* Tiền sự: Chưa.
* Tiền án:
- Ngày 19/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 51/2020/HS-ST, chấp hành xong ngày 03/01/2021, chưa xóa án tích.
- Ngày 17/6/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 1 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 189/2022/HS-ST, chấp hành xong ngày 11/01/2023, chưa xóa án tích.
* Nhân thân:
- Ngày 04/9/2008, bị Chủ tịch ủy ban nhân thành phố Rạch Giá ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đến tháng 8 năm 2010 chấp hành xong, đã xóa tiền sự.
- Ngày 06/10/2010, bị Chủ tịch ủy ban nhân thành phố Rạch Giá ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đến tháng 9 năm 2012 chấp hành xong, đã xóa tiền sự.
Từ ngày 23/12/2024 đến ngày 08/02/2025 thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản.
Ngày 28/02/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 319, ngày 28/02/2025. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại số 246, đường Ngô Quyền, khu phố 3, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là số 246 Ngô Quyền, khu phố 3, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Trần Văn D, sinh năm 1963 (vắng mặt);
Địa chỉ: số Lô D6-03, đường N, phường R, tỉnh An Giang.
- Hồ Thị Mỹ T3, sinh năm 1998 (vắng mặt);
Địa chỉ: số 178, đường C, phường R, tỉnh An Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Duy T4, sinh năm 1994 (vắng mặt);
Địa chỉ: số 150/9, đường L, phường R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân không có nghề nghiệp ổn định muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Quách Hùng T nảy sinh ý định chạy quanh các tuyến đường trên địa bàn thành phố R (nay là phường R) để tìm tài sản lấy trộm và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Qua điều tra xác định được từ ngày 23/12/2024 đến ngày 18/02/2025 T đã thực hiện 02 vụ Trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ 1: Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 23/12/2024 T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Crea, màu trắng, biển kiểm soát 68AB-07538 chạy quanh các tuyến đường trên địa bàn thành phố Rạch Giá để tìm tài sản lấy trộm. Khi chạy ngang nhà số D6-03 N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là nhà số D6-03 N, phường R, tỉnh An Giang) T quan sát bên trong nhà không có người trong coi nên quay xe trở lại đậu xe trước cửa nhà đi vào bên trong thấy cửa rào đóng lại nhưng không bóp ổ khóa nên T dùng tay lấy ổ khóa và mở cánh cửa cổng ra. Tiếp đó, T đi ra bên ngoài quan sát thấy không có ai phát hiện nên đi vào bên trong nhà đi đến phòng khách nhìn xung quanh để tìm tài sản lấy trộm thì thấy bên góc phải của phòng khách có để 01 (một) thùng carton màu cam, có dòng chữ BOSS, phía bên ngoài thấy có hình máy rửa xe nên T lại gần mở thùng carton ra coi thì thấy bên trong có để máy rửa xe, thấy vậy T lấy thùng carton bên trong có máy rửa xe ra khỏi nhà để ở phía trước xe rồi chạy đến khu vực đường K, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là đường K, phường R, tỉnh An Giang) để bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) bán với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và đã sử dụng hết số tiền trên vào mục đích tiêu xài cá nhân, (bút lục số 42-46, 81, 83-85, 117-120).
Vụ thứ 2: Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 18/02/2025 T đi đến cửa hàng điện thoại di động FPT, địa chỉ: số 159 đường T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay số 159 đường T, phường R, tỉnh An Giang) với mục đích là tìm điện thoại di động để sơ hở rồi lấy trộm đem đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Nhưng lúc này do nhân viên và khách tại cửa hàng đông, không thực hiện được nên T bỏ ra về. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T tiếp tục quay lại cửa hàng điện thoại di động FPT tại địa chỉ trên để mua điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 14, màu xanh. Trong lúc chờ nhân viên đang làm thủ tục tính tiền điện thoại và bảo hành máy thì lợi dụng nhân viên của cửa hàng mất cảnh giác, T đi xung quanh cửa hàng tìm điện thoại di động để lấy trộm. Lúc này T phát hiện tủ đựng điện thoại trưng bày đầu tiên bên trái của cửa hàng không đóng, khóa cửa tủ, bên trong có điện thoại Samsung Galaxy S25+, màu xanh (còn để trong hộp). Tiếp đó T lấy và mở hộp ra xem thì thấy điện thoại Samsung Galaxy S25+, màu xanh bên trong. Sau đó, để lại chỗ cũ rồi tiếp tục quan sát xung quanh không ai để ý nên T lén lút lấy trộm điện thoại di động Samsung Galaxy S25+, màu xanh bỏ vào bên trong áo đang mặc rồi đến chỗ nhân viên đang làm thủ tục lấy di động đã mua trước đó rồi nhanh chóng bỏ đi. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T đem điện thoại Samsung Galaxy S25+, màu xanh vừa lấy trộm được đến tiệm điện thoại “WIN PHONE” địa chỉ: số 418 N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là số 418 N, phường R, tỉnh An Giang) bán được 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Sau đó tại tiệm điện thoại “WIN PHONE” T mua lại của tiệm 01 (một) điện thoại di động nhãn Iphone 12 Pro Max, màu đen với giá 13.900.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm nghìn đồng). T được chủ tiệm điện thoại hoàn lại số tiền thừa 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) đồng từ tiền bán điện thoại Samsung Galaxy S25+, màu xanh. Sau khi nhận tiền và điện thoại thì T bỏ về nhà, (bút lục số 111-116, 147-152, 181-186).
Ngày 28/02/2025, Quách Hùng T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị can Quách Hùng T có thái độ thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.
Bị cáo Quách Hùng T đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Quách Hùng T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
* Vật chứng thu được:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S25+, màu xanh, số IMEI1 2351232092605942, số IMEI 2: 351392382605943, chưa qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu đen, số IMEI1: 35133088695959, số IMEI 2: 351330886854013, đã qua sử dụng, (bút lục số 134-135).
- Lưu vào hồ sơ vụ án: 02 (hai) đĩa DVD trong đó, 01 (một) đĩa DVD ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại nhà số D6-03 N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là nhà số D6-03 N, phường R, tỉnh An Giang) và 01 (một) đĩa DVD ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại cửa hàng “Điện máy FPT shop” tại 159 T, phường V, thành phố R (nay số 159 đường T, phường R, tỉnh An Giang).
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS, ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận:
- Định giá qua hồ sơ: 01 (Một) máy xịt rửa xe nhãn hiệu Boss, Model: BO - 3000CW, công xuất 3000W, đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá ngàyN23/12/2024, có giá trị 583.000 đồng (Năm trăm tám mươi ba nghìn đồng), (bút lục số 71).
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS, ngày 17 tháng 03 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S25+, số seri: R5CY2191QKK, số IMEI1: 351232092605942, số IMEI 2: 351392382605943, RAM: 12GB, dung lượng bộ nhớ: 256GB, màu xanh, chưa qua sử dụng. Tại thời điểm định giá ngày 18/02/2025, có giá trị 23.890.000 đồng (Hai mươi ba triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng), (bút lục số 167).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản nêu trên.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang đã trao trả cho chủ sở hữu các vật chứng, gồm:
- Trả cho bà Lê Thị Thùy Trang: 01 (một) xe mô tô nhãn nhiệu ESPERO, số loại: CREA, màu trắng, biển kiểm soát 68AB-07538, số khung RPE7CBTPEPA671443, số máy: VDEJQ139QMB4671443, đã qua sử dụng. Theo Quyết định xử lý vật chứng số 3172, ngày 10/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, (bút lục số 190, 193).
- Trả cho ông Nguyễn Duy T2: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số máy MG923LL/A, số sêri GONG14670D43; IMEI 1: 35133088695959, IMEI 2: 351330886854013, đã qua sử dụng. Theo Quyết định xử lý vật chứng số 5012, ngày 04/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, (bút lục số 191, 194).
- Trả cho bà Hồ Thị Mỹ T3 (đại diện bị hại): 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S25+, kiểu thiết bị SM-S936B/DS, số sêri R5CY2191QKK, IMEI1: 351232092605942, IMEI 2: 351392382605943, màu xanh, chưa qua sử dụng. Theo Quyết định xử lý vật chứng số 5013, ngày 04/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang.
* Theo bản cáo trạng số: 12/CT.VKSKV1 ngày 17/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang truy tố bị cáo Quách Hùng T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quách Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Quách Hùng T mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Trần Văn D yêu cầu được bồi thường số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- Đại diện bị hại Hồ Thị Mỹ T3 sau khi nhận lại tài sản yêu cầu bồi thường thêm số tiền khấu hao của điện thoại 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Duy T4 yêu cầu được bồi thường số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá (nay là Công an tỉnh An Giang), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Quách Hùng T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Quách Hùng T là đối tượng có 02 tiền án, chưa được xoá án tích và do bản thân không có nghề nghiệp ổn định muốn có tiền tiêu xài cá nhân từ ngày 23/12/2024 đến ngày 18/02/2025 T đã thực hiện 02 vụ Trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ 1: Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 23/12/2024 T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Crea, màu trắng, biển kiểm soát 68AB-07538 chạy ngang nhà số D6-03 N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là nhà số D6-03 N, phường R, tỉnh An Giang) T quan sát bên trong nhà không có người nên đi vào bên trong nhà đi đến phòng khách lấy trộm 01 (một) máy xịt rửa xe nhãn hiệu BOSS. Sau đó, T chạy đến khu vực đường K, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là đường K, phường R, tỉnh An Giang) để bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết. Giá trị tài sản qua định giá là 583.000 đồng.
Vụ thứ 2: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/02/2025, T đến cửa hàng điện thoại di động FPT tại số 159 đường T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay số 159 đường T, phường R, tỉnh An Giang) để mua điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 14, màu xanh. Trong lúc chờ nhân viên đang làm thủ tục tính tiền điện thoại và bảo hành máy thì lợi dụng nhân viên của cửa hàng mất cảnh giác, T đi xung quanh phát hiện tủ đựng điện thoại trưng bày đầu tiên bên trái của cửa hàng không đóng, khóa cửa tủ, bên trong có điện thoại Samsung Galaxy S25+, màu xanh (còn để trong hộp). T lén lút lấy trộm điện thoại di động Samsung Galaxy S25+, màu xanh bỏ vô bên trong áo đang mặc rồi đi đến chỗ nhân viên đang làm thủ tục lấy điện thoại di động đã mua trước đó rồi nhanh chóng bỏ đi. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T đem điện thoại Samsung Galaxy S25+, màu xanh vừa lấy trộm được đến tiệm điện thoại “WIN PHONE” địa chỉ: số 418 N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là số 418 N, phường R, tỉnh An Giang) bán được 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Sau đó, T mua lại của tiệm 01 (một) điện thoại di động nhãn Iphone 12 Pro Max, màu đen với giá 13.900.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm nghìn đồng). T được chủ tiệm điện thoại hoàn lại số tiền thừa 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) từ tiền bán điện thoại. Giá trị tài sản qua định giá là 23.890.000 đồng.
Tổng cộng, Quách Hùng T đã thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản, tài sản chiếm đoạt trị giá 24.473.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn đồng).
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Quách Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, tuy nhiên sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù quay về địa phương bị cáo vẫn không sửa đổi mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm; nhưng vì mục đích muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra công sức lao động chân chính, bị cáo vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của những người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người bị hại và làm mất an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt; đồng thời cũng nhằm góp phần ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Theo bản luận tội mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Trần Văn D yêu cầu được bồi thường số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền nêu trên.
- Đại diện bị hại Hồ Thị Mỹ T3 sau khi nhận lại tài sản yêu cầu bồi thường thêm số tiền khấu hao của điện thoại 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền nêu trên.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Duy T4 yêu cầu được bồi thường số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng), bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền nêu trên.
Về án phí: Bị cáo Quách Hùng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Quách Hùng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Quách Hùng T mức án 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Quách Hùng T bồi thường cho bị hại Trần Văn Dương số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc bị cáo Quách Hùng T bồi thường cho đại diện bị hại Hồ Thị Mỹ T3 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc bị cáo Quách Hùng T bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Duy T4 số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng), sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Hai bên trực tiếp giao nhận tiền hoặc giao nhận tại Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Hùng T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/9/2025). Riêng người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 1-An Giang; - Phòng THADS khu vực 1 - An Giang; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN THU IN |