vanban.org

Bản án 65/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 09/05/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn K.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 09/2025/HSST ngày 24-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Van K - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HS-PT
Ngày: 09 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Nam.

Các Thẩm phán: ông Phạm Văn Tâm; ông Nguyễn Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Bảo Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Út Nhỏ – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 45/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn K; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn K, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D (đã chết) và bà Huỳnh Thị R; bị cáo có vợ đã ly hôn và 01 người con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: ngày 31/12/2015, Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 23/3/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam tư ngày 02/12/2024 cho đ n nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 6 năm 2024, anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1994, ngụ ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh có nhờ Trần Văn K đứng ra bảo lãnh để anh T vay của anh Cao Văn N số tiền 3.000.000 đồng (trong đó tiền của anh N cho vay 2.000.000 đồng, tiền của Trần Văn K cho vay 1.000.000 đồng). Sau khi vay, anh T đã trả cho anh N được 2.000.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng Trần Văn K đòi nhiều lần nhưng không trả dẫn đến mâu thuẫn giữa anh T và Trần Văn K về số tiền trên. Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 26/9/2024, Trần Văn K lấy cây dao bấm bằng kim loại màu trắng có chiều dài 22cm, phần lưỡi dao dài 10cm, cán dao dài 12cm bỏ vào cốp xe môtô đi đến nhà anh T để đánh dằn mặt. Khi đến nhà anh T, K lấy con dao bấm từ cốp xe ra để sẵn trong túi quần và gặp nói chuyện với bà Võ Thị Bạch T1, sinh năm 1963 (mẹ ruột anh T) thì nhìn thấy anh T điều khiển xe môtô về cách nhà khoảng 20m, K lấy cây dao bấm ra định đâm anh T thì anh T bỏ chạy và được bà T1 can ngăn nên K bỏ đi về. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, K ghé nhà anh Lâm Thanh H, sinh năm 1980, ngụ ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh chơi, đang đứng nói chuyện trước cửa nhà anh H thì nhìn thấy anh T điều khiển xe mô tô đi ngang qua. Lúc này, K lấy con dao bấm ra cầm trên tay phải, mũi dao hướng lên trên, chặn đầu xe anh T dừng lại rồi dùng dao đâm một cái từ phải sang trái, trúng vào bắp tay phải của anh T gây thương tích. Anh T bỏ chạy vào nhà ông Lường Văn D1, sinh năm 1985, ngụ ấp C, xã A, huyện B để trốn. K được anh H can ngăn nên bỏ đi về nhà. Sau đó, anh T được đưa đi điều trị tại bệnh viện X - G đến ngày 02/10/2024 thì xuất viện về nhà và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Trần Văn K về hành vi gây thương tích.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 246/KLTTCT-TTPYTN ngày 06/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận:

- 01 vết sẹo mặt trong cánh tay phải, kích thước trung bình có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 02% (Hai phần trăm).

- Tổn thương hoàn toàn thần kinh giữa, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 31% (Ba mươi mốt phần trăm).

- Tổn thương bán phần thần kinh trụ, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 21% (Hai mươi mốt phần trăm).

- Tổn thương thần kinh bì cánh tay trong, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 11% (Mười một phần trăm).

- Tổn thương động mạch lớn (cánh tay phải) đã khâu nối mạch máu, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 07% (Bảy phần trăm).

- Tổn thương một phần tĩnh mạch cánh tay phải đã khâu mạch máu, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 03% (Ba phần trăm).

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm cơ thể của Nguyễn Thanh T tại thời điểm giám định là 57% (Năm mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp công tại Thông tư. Thương tích phù hợp do vật sắc nhọn gây ra; cơ chế hình thành thương tích là trực tiếp.

* Tài liệu, đồ vật thu giữ: 01 (một) cây dao bấm bằng kim loại màu trắng có chiều dài 22 cm, phần lưỡi dao dài 10 cm, cán dao dài 12 cm.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, đã xử:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn K 04 (bốn) năm tù về tội "Cố ý gây thương tích", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2024.

Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/3/2025 bị cáo Trần Văn K kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, phát biểu quan điểm. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và căn cứ các điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Văn K 04 (bốn) năm tù là có căn cứ, hình phạt áp dụng là phù hợp, không nặng, bị cáo kháng cáo không cung cấp thêm tình tiết gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 24/02/2025, đến ngày 05/3/2025 bị cáo có đơn kháng cáo. Xét về trình tự thủ tục kháng cáo phù hợp với Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: căn cứ vào toàn bộ lời khai của bị cáo, các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa, có cơ sở xác định vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/9/2024 tại khu vực ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh bị cáo Trần Văn K dùng 01 cây dao bấm bằng kim loại màu trắng có chiều dài 22 cm, lưới dao dài 10 cm, cán dao dài 12 cm, là hung khí nguy hiểm đâm 01 cái trúng tay phải anh Nguyễn Thanh T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 57%. Hành vi của bị cáo Trần Văn K đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết định không tăng nặng là “Gây thương tích…….của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” theo quy định tại các điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: khi xét xử sơ thẩm cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử bị cáo mức án 04 năm tù là xét xử bị cáo cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, bị cáo kháng cáo cũng không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác nên không có căn cứ giảm nhẹ trách hình phạt theo kháng cáo của bị cáo.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn K, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn K.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 09/2025/HSST ngày 24-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

2. Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn K 04 (bốn) năm tù về tội "Cố ý gây thương tích", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2024.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ