vanban.org

Bản án 65/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Phan Văn T.

Về con chung: Giao 03 con chung tên Phan Công T - sinh ngày 03/10/2007, Phan Công K - sinh ngày 21/4/2010 và Phan Công Hữu P - sinh ngày 03/10/2013 cho ông Phan Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Ông T không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, bà O có quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Phan Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06/5/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Tường Viên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Loan

Ông Trần Huy Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 818/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim O – Sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn P, xã A, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn:

Ông Phan Văn T – Sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn N, xã P, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Kim O trình bày:

Bà và ông T tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu từ năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà đánh đập chửi mắng con cái và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà. Bà đã cho ông T nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng ông T vẫn chứng nào tật nấy nên đã không còn chung sống với nhau. Nay không còn tình cảm nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phan Văn T.

Về con chung: Bà và ông T có 04 con chung là Phan Công V - sinh ngày 27/7/2005, Phan Công T - sinh ngày 03/10/2007, Phan Công K - sinh ngày 21/4/2010 và Phan Công Hữu P - sinh ngày 03/10/2013. Cháu Phan Công V đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với các cháu Phan Công T, Phan Công K và Phan Công Hữu P thì bà giao các con chung cho ông T nuôi và không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/02/2025 và đơn xin vắng mặt, bị đơn - ông Phan Văn T trình bày:

Ông và bà O tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã Ninh P, thị xã N. Quá trình chung sống thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau do bà O có người đàn ông khác bên ngoài và bỏ đi khỏi nhà từ năm 2019 cho đến nay. Nay theo yêu cầu khởi kiện của bà O thì ông đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông và bà O có 04 con chung là Phan Công V - sinh ngày 27/7/2005, Phan Công T - sinh ngày 03/10/2007, Phan Công K - sinh ngày 21/4/2010 và Phan Công Hữu P - sinh ngày 03/10/2013. Cháu Phan Công V đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với 03 con chung Phan Công T, Phan Công K và Phan Công Hữu P thì ông đồng ý nuôi dưỡng các con và không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con chung vì từ khi bà O bỏ đi thì ông là người trực tiếp nuôi các con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã N trình bày quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có cơ sở vì tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: bà O và ông T có 04 con chung là Phan Công V - sinh ngày 27/7/2005, Phan Công T - sinh ngày 03/10/2007, Phan Công K - sinh ngày 21/4/2010 và Phan Công Hữu P - sinh ngày 03/10/2013. Cháu Phan Công V đã trưởng thành nên không giải quyết; các cháu T, K và P hiện do ông T nuôi dưỡng và cháu P có nguyện vọng muốn sống cùng với cha nên đề nghị chấp nhận yêu cầu giao 03 con chung cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ cho bị đơn và ông Phan Văn T có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Phan Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã Ninh P, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp: Bà O yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với ông T nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim O và ông Phan Văn T tự nguyện chung sống, kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ninh P, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01cấp ngày 10 tháng 8 năm 2005. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim O và ông Phan Văn T là hợp pháp.

Theo lời trình bày của nguyên đơn thì sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau nảy sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, say sỉn về nhà đánh đập chửi mắng con cái và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn quan tâm, thương yêu nhau nữa. Năm 2019, bà đi làm ăn thì ông T dắt người phụ nữ khác về nhà chung sống làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Theo lời trình bày của bị đơn thừa nhận vợ chồng có kình cãi do bà O có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác và đồng ý ly hôn theo yêu cầu nguyên đơn. Từ năm 2019 đến nay, bà O và ông T đã không còn chung sống với nhau là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương.

Xét thấy cuộc sống vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau nhưng cuộc sống chung giữa bà O và ông T không hạnh phúc, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại K̉ n 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà O và ông T có 04 con chung là Phan Công V - sinh ngày 27/7/2005, Phan Công T - sinh ngày 03/10/2007, Phan Công K - sinh ngày 21/4/2010 và Phan Công Hữu P - sinh ngày 03/10/2013. Bà O trình bày từ khi bà và ông T không chung sống với nhau thì ông T trực tiếp nuôi dưỡng các con chung nên yêu cầu giao con chung cho ông T nuôi dưỡng và không cấp dưỡng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/02/2025, ông T đồng ý nuôi dưỡng 03 con chung vì từ khi bà O bỏ đi ông chăm sóc các con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, cháu Phan Công V - sinh ngày 27/7/2005 đã trưởng thành nên không giải quyết; các cháu T, K và P hiện đang được ông T nuôi dưỡng và cháu P có nguyện vọng muốn sống cùng với cha.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và để đảm bảo cho các cháu có đủ điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội nên cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao ba con chung Phan Công T, sinh ngày 03/10/2007, Phan Công K, sinh ngày 21/4/2010 và Phan Công Hữu P, sinh năm 03/10/2013 cho ông Phan Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp. Sau khi ly hôn, bà O có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát có quan điểm cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và tranh chấp con chung là có cơ sở chấp nhận và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Quan điểm nói trên của vị đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim O phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Phan Văn T.

2. Về con chung: Giao 03 con chung tên Phan Công T - sinh ngày 03/10/2007, Phan Công K - sinh ngày 21/4/2010 và Phan Công Hữu P - sinh ngày 03/10/2013 cho ông Phan Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Ông T không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, bà O có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim O phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006556 ngày 24/12/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã N. Bà O đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ