- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diễm Trinh - Lê Hoàng Minh"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/9/2025 V/v tranh chấp: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lê Thị Tuyết Mai.
2/ Ông Nguyễn Văn Sang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025. Về tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2025/QĐXX-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diểm T, sinh ngày 28/4/1993.
CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 09/8/2021.
Địa chỉ: số E, khu V, phường H, quận C, TP .. Có mặt
Liên hệ: số B, KDC H, đường số E, phường T, quận C, TP .. (nay là số B, KDC H, đường số E, phường C, TP Cần Thơ). Số điện thoại: xxxx xxx xxx.
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng M, sinh ngày 12/02/1990.
CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 09/8/2021.
Địa chỉ: số E, khu V, phường H, quận C, TP .. (nay là số E, khu V, phường C, TP Cần Thơ). Số điện thoại: xxxx xxx xxx. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn ngày 12/12/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị Diểm T trình bày:
1/ Về hôn nhân: bà và ông Lê Hoàng M tự nguyện kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, TP . vào ngày 09/5/2011. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc được khoảng 13 năm, nhưng khoảng năm 2024 thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân là bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vã do tính cách không hợp nhau. Bà đã cố hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ nhưng mâu thuẫn ngày càng lớn, không hàn gắn được nên ly thân, bà đã dọn ra ngoài ở riêng từ tháng 11 năm 2024 đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm với ông M, không thể hàn gắn được nên bà T xin ly hôn để không còn ràng buộc với nhau.
2/ Về con chung: Bà khai vợ chồng không có 02 con chung tên Lê Minh T1 (nam) sinh ngày 10/12/2010 và Lê Chí T2 (nam) sinh ngày 26/12/2014, hiện đang sống với ông M. Nguyên đơn tự nguyện giao 02 con cho ông M trực tiếp nuôi con nhưng sẽ không cấp dưỡng nuôi con chung.
3/ Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, bị đơn ông Lê Hoàng M đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không rõ lý do. Vì thế Tòa án không tiến hành hòa giải được. Sau khi tiến hành đầy đủ các thủ tục cần thiết theo qui định, vụ án được đưa ra xét xử công khai vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn; Con chung bà T tự nguyện giao 02 con cho ông M trực tiếp nuôi con nhưng sẽ không cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án điều chỉnh. Bị đơn Lê Hoàng M tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.
Sau khi nghe ý kiến phát biểu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Bà Nguyễn Thị Diểm T và ông Lê Hoàng M xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Nên được xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Nhận thấy cuộc sống chung của hai vợ chồng đã có thời gian hạnh phúc, đã có con chung với nhau. Lẽ ra cả hai phải càng hiểu và quan tâm đến nhau nhiều hơn. Nhưng ông M lại không quan tâm đến hôn nhân, không thiện chí hàn gắn khi có rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Thậm chí khi bà T có đơn xin ly hôn tại tòa án ông vẫn không quan tâm, không liên hệ với Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Qua xác nhận của Công an phường H (nay là phường C) ngày 12/12/2024 (BL 09) thì ông M có đăng ký thường trú và hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương nhưng cố tình vắng mặt không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ kiện. Chứng tỏ ông không có thiện chí muốn duy trì cuộc hôn nhân này với bà T nữa.
Mặc dù đã được động viên hàn gắn đoàn tụ nhưng bà T cho rằng giữa vợ chồng không hòa hợp về tính cách nên thường gây gỗ, ông M không quan tâm đến bà, làm cho bà tổn thương nhiều lần. Bản thân bà cũng không còn tình cảm gì với ông M, không còn tha thiết muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử nhận thấy đời sống chung thực tế của hai vợ chồng bà T và ông M đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được. Và hôn nhân thì phải xuất phát từ sự tự nguyện của cả hai người. Nên việc bà Nguyễn Thị Diểm T xin được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xác định vợ chồng có 02 con chung tên Lê Minh T1 (nam) sinh ngày 10/12/2010 và Lê Chí T2 (nam) sinh ngày 26/12/2014 đang sống với ông M. Bà T tự nguyện giao 02 con cho ông M được trực tiếp nuôi con do không muốn thay đổi cuộc sống đang ổn định của con chung. Xét cháu Lê Minh T1 (nam) sinh ngày 10/12/2010 đã gần 15 tuổi và Lê Chí T2 (nam) sinh ngày 26/12/2014, đã gần 11 tuổi nhưng đều đang sống chung với ông M và tòa án cũng đã ghi nhận ý kiến các cháu. Mặc khác, trong thời gian vợ chồng ly thân cho đến hiện nay các cháu đều do ông M nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Không có cơ sở chứng minh ông M không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt và phù hợp với tâm sinh lý của con chung, theo Điều 58 và 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của bà Nguyễn Thị Diểm T là giao con cho bị đơn tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung.
Tuy nhiên bà Nguyễn Thị Diểm T vẫn được quyền tới lui thăm con theo qui định của pháp luật, không ai được ngăn cản.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: mặc dù đã được giải thích vấn đề cấp dưỡng là quyền lợi của con chung chứ không phải của người nuôi con nhưng bà T vẫn không chấp nhận và ông M không liên hệ Tòa án để trình bày yêu cầu. Xét đây là tự nguyện thỏa thuận của đương sự, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không được đặt ra giải quyết do đương sự không yêu cầu.
Về tài sản và nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xác định không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh.
Vì các lẽ trên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CẦN THƠ
- Căn cứ Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Căn cứ Điều 28, 35, 147, 228, 235, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH
1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Cho bà Nguyễn Thị Diểm T được ly hôn với ông Lê Hoàng M.
2/- Về con chung: giao cháu Lê Minh T1 (nam) sinh ngày 10/12/2010 và Lê Chí T2 (nam) sinh ngày 26/12/2014 cho ông Lê Hoàng M tiếp tục nuôi dưỡng.
Không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Nguyễn Thị Diểm T.
Dành quyền thăm nom con chung cho bà Nguyễn Thị Diểm T theo qui định của pháp luật.
3/- Về tài sản và nợ chung: không có và không yêu cầu nên không điều chỉnh. Nếu sau này phát sinh và các bên có yêu cầu thì sẽ được tách ra thành vụ kiện khác để giải quyết theo qui định của pháp luật.
4/- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Diểm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001550 ngày 05/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Q. Cái Răng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Cần Thơ). Bà Nguyễn Thị Diểm T đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Nguyễn Thị Diểm T được quyền kháng cáo và kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND phường C, nơi cư trú hoặc từ khi nhận được bản án ông Lê Hoàng M được quyền kháng cáo để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận - TAND TP Cần Thơ. - VKSND KV 3- Cần Thơ. - Cơ quan Thi hành án. - Người TGTT. - Lưu HS – BA Thái Mỹ Nhung Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Mỹ Nhung |