vanban.org

Bản án 65/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn N.

Về việc nuôi con chung: 1. Anh Bùi Văn N được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Hoàng A, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị T và anh N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2025
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXX-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1994; Nơi thường trú: Ấp LT, xã LT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp; Chổ ở hiện nay: Số A Quốc lộ B, khu phố TQ, phường ĐH, thành phố DA, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Ấp LT, xã LT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 02 năm 2025 và biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 4 năm 2025 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị với anh Bùi Văn N cưới nhau vào năm 2018, trước khi tiến hôn nhân thì chị và anh N có tìm hiểu, được khoảng vài tháng thì cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới thì cả hai đi làm thuê. Cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do anh N thường xuyên ăn chơi, nói chuyện thô tục, có lúc tác động vật lý đến chị. Cả hai đã không còn sống chung hơn 02 năm nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn N. Về con chung: Chị thống nhất giao con chung Bùi Hoàng A, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2019 cho anh N được nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Bùi Văn N không có nợ ai và cũng không nợ chúng chị, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với anh Bùi Văn N đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn N; về nuôi con chung: Giao con chung Bùi Hoàng Anh, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2019 cho anh Bùi Văn N được nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh N chưa có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T trình bày không có, còn anh Bùi Văn N không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Bùi Văn N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn N là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Bùi Văn N, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Nguyễn Thị T thì cuộc sống của chị và anh N không còn hạnh phúc từ năm 2020 do anh N thường xuyên ăn chơi, nói chuyện thô tục, có lúc tác động vật lý đến chị và cả hai đã không còn sống chung hơn 02 năm nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị T và anh N hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Bùi Văn N.

Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T thống nhất giao con chung Bùi Hoàng A, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2019 cho anh N được nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị T và anh N không còn sống chung và hiện nay thì cháu Hoàng A do anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng A, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh N chưa có văn bản ghi ý kiến để Tòa án xem xét, nếu anh N có yêu cầu thì anh được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Bùi Văn N không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn N.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Anh Bùi Văn N được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Hoàng A, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2019.

2.2. Chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014659 ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ