- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65 /2024/HSPT Ngày 16/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hồng Sơn;
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Minh Tuấn;
Bà Đặng Thị Thơm.
Thư ký phiên toà: Bà Vy Minh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Yến và bà Vũ Thị Thúy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1205/2023/TLPT-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Trọng T bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử về tội “Giết người”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2023/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Trọng T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn TX, xã ĐX, huyện GL, tỉnh HD; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị L; bị cáo có vợ và có 02 con; chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh HD (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn ƯM, xã AĐ, huyện NG, tỉnh HD (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh HD, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 28/4/2023, anh Phạm Văn Đ đang ngồi ăn cơm tại nhà cùng anh Nguyễn Văn H (là con rể của anh Đ) và một số người khác thì Nguyễn Trọng T điện thoại cho anh Đ nói chuyện (anh Đ bật loa ngoài). Quá trình nói chuyện giữa T và anh Đ xảy ra to tiếng, chửi nhau. Anh Nguyễn Văn H ngồi cạnh bố vợ (anh Đ) nghe thấy liền chửi nhau với T qua điện thoại và cùng T thách thức hẹn gặp tại khu vực CM thuộc thôn TX, xã ĐX, huyện GL để đánh nhau. Anh H vào khu vực bếp của gia đình anh Đ lấy 01 con dao có đặc điểm chuôi dao bằng gỗ dài 14 cm, rộng 3,5 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20 cm, bản rộng nhất 05 cm rồi đi bộ ra khu vực CM để tìm T; anh Đ chạy đi theo để can ngăn. Lúc này, T cũng đi bộ từ nhà mình ra khu vực CM nhưng không thấy anh H đâu nên đã vào quán bia nhà anh Phạm Văn T rồi gọi điện vào số máy anh Đ tiếp tục cãi chửi nhau với anh H. T đi ra khu vực ngã ba cách quán nhà anh T khoảng 50 mét, rồi đi tiếp về hướng CM thì gặp anh H và anh Đ. Tại đây, T và anh H tiếp tục cãi nhau. Anh H giơ dao về phía T đe dọa, T bỏ chạy về phía ngã ba lối rẽ vào quán nhà anh T, anh H cầm dao đuổi theo. T chạy vào đống gỗ ở khu đất trống phía bên trái cạnh ngã ba đường nhặt một thanh gậy gỗ màu xám, kích thước (100 x 05 x 2,5) cm quay lại đánh nhau với anh H. Khi anh H cầm dao xông đến gần, T cầm thanh gậy gỗ bằng tay phải vụt một nhát từ phải qua trái trúng vào mạn sườn bên trái của anh H, rồi tiếp tục cầm thanh gậy gỗ bằng hai tay vụt tiếp một nhát theo chiều từ trên xuống dưới, chéo từ phải qua trái trúng phần đỉnh đầu bên trái của anh H làm anh H ngã gục ngay xuống đường nằm bất tỉnh. Anh Nguyễn Văn H được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện TM, sau chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh HD và Bệnh viện Hữu nghị VĐ, Hà Nội với các thương tích: Chấn thương bụng kín gây chấn thương lách độ IV, chấn thương sọ não kín gây vỡ lún xương đỉnh thái dương trái, tụ máu ngoài màng cứng thái dương trái, chảy máu dưới nhện.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29/4/2023, thể hiện:
Hiện trường xảy ra vụ việc là khu vực ngã ba nơi giao nhau giữa đường đi vào nhà anh Phạm Văn T và đường khu dân cư mới thôn TX, xã ĐX, huyện GL. Đường khu dân cư mới được đổ bê tông rộng 7,7 m, phía Nam là khu đất trống, phía Bắc là đường ốp gạch rộng 1,8 m, đường đi vào nhà anh T được đổ bê tông rộng 5,4 m, hai bên là lề đường ốp gạch rộng 1,18 m rồi đến khu vực đất trống. Xem xét hiện trường ghi nhận, trên lề đường bên phải hướng đi vào nhà anh T, nơi tiếp giáp với bãi cát đá có một bãi gỗ của gia đình anh Phạm Văn T, sinh năm 1977, trú tại: Thôn TX, xã ĐX, huyện GL, gồm nhiều thân gỗ tự nhiên và nhiều thanh gỗ hình hộp chữ nhật dùng để làm kệ Pallet được xếp ngay ngắn. Ngoài ra, phía Bắc bãi gỗ có một thanh gỗ tự nhiên trên lề đường, nằm song song với mép đường, cách mép đường bên phải đường vào nhà anh T 01 m, đuôi thanh gỗ (đầu to hơn của thanh gỗ) cách cột mốc cố định 8,7 m. Thanh gỗ dài 1,48 m, đường kính đầu to 05 cm, đầu nhỏ đường kính 03 cm. Trên lề đường khu dân cư mới, phía bên trái đường đi vào nhà anh T có một bãi gỗ gồm nhiều thanh gỗ hình hộp chữ nhật của gia đình anh Phạm Văn T được xếp ngay ngắn và dùng làm Pallet. Bãi gỗ này cách cột mốc cố định 14 m. Trên bãi đất trống phía Nam đường khu dân cư mới giáp đường có một bãi gỗ gồm nhiều cây gỗ tự nhiên, được cắt kích thước khác nhau xếp ngay ngắn, bãi gỗ này thẳng đường đi vào nhà anh T nhìn ra, dài 13 m. Người làm chứng (anh Phạm Văn T) tham gia khám nghiệm hiện trường xác định người bị thương tích nằm ngay ngã ba nơi giao nhau giữa đường đi vào nhà anh T và đường khu dân cư mới thôn TX, tư thế song song với đường khu dân cư mới, đầu quay hướng Tây, cách mép đường bên trái đường đi vào nhà anh T 2,3 m, cách cột mốc cố định 10,9 m, chân quay hướng Đông.
Tại Bệnh án bệnh nhân lưu ngày 05/5/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh HD thể hiện: Anh Nguyễn Văn H vào viện hồi 01 giờ 28 phút ngày 29/4/2023, ra viện hồi 03 giờ 30 phút ngày 29/4/2023. Lý do vào viện: Bị đánh. Chuẩn đoán: Đa chấn thương, vỡ lách chấn thương có điểm mạch đang chảy máu/ Chấn thương sọ não/ Chấn thương thận/Bị đánh.
Tại Bệnh án ngoại của Bệnh viện Hữu nghị VĐ ngày 09/5/2023, thể hiện: Anh Nguyễn Văn H vào viện hồi 01 giờ 30 phút ngày 30/4/2023 ra viện ngày 09/5/2023. Cấp cứu: Đa chấn thương.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 237/KLTTCT ngày 12/7/2023, Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh HD, xác định:
- Các kết quả chính: Chấn thương bụng kín gây chấn thương lách độ IV, chảy máu ổ bụng, đã phẫu thuật cắt lách. Hiện ổn định, để lại 03 sẹo mổ, dẫn lưu vùng bụng kích thước trung bình và nhỏ. Chấn thương sọ não kín gây vỡ lún xương đỉnh thái dương trái, tụ máu ngoài màng cứng thái dương trái, chảy máu dưới nhện, được điều trị nội khoa. Hiện ổn định, không còn hình ảnh tổn thương nội sọ, vỡ lún xương đỉnh thái dương trái trên diện 30x55mm trên phim chụp sọ não cắt lớp vi tính, điện não đồ bình thường.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là 54% (năm mươi tư phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra, anh H bị người khác dùng đoạn thanh gỗ như Công an tỉnh gửi giám định khi chưa bị gãy đánh, có thể gây nên tổn thương.
Về vật chứng vụ án cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 02 (hai) thanh gậy gỗ màu xám (dạng gãy ra từ một thanh gậy gỗ), hình hộp chữ nhật, kích thước (100 x 5 x 2,5) cm,mỗi thanh gậy gỗ có 01 đầu bằng và 01 đầu vát gãy nham nhở.
- 01 (một) con dao dạng dao Thái, có cán dao bằng gỗ dài 14 cm, rộng 3,5 m; phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 20 cm, bản rộng nhất 5 cm; ở góc dưới dao có một lỗ tròn đường kính 01 cm.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A33 5G màu đen, loại máy 02 sim, trong máy có lắp 02 sim, sim 1 có số 0386.087.919, sim 2 có số 0397.679.938, máy có số IMEI (Khe 1) là 351494690831649, số IMEI (Khe 2) là 353439740831642 (điện thoại của Nguyễn Trọng T).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã bồi thường số tiền 70.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn H.
* Tại Cáo trạng số 71/CT-VKSHD-P2 ngày 29/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh HD truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2023/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh HD quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 57, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Giết người”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 06 năm tù (sáu năm tù), thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/4/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Trọng T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 75.160.998 đồng. Trừ số tiền 70.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị cáo còn phải bồi thường 5.160.998 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Ngày 20/9/2023, bị cáo Nguyễn Trọng T kháng cáo xin giảm hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm đã quy kết, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho người bị hại, tại cấp sơ thẩm phía người bị hại là anh H có xin giảm hình phạt cho bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho anh H, nộp xong án phí dân sự, hình sự sơ thẩm như bản án sơ thẩm đã tuyên; hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ của bị cáo đã bỏ đi, bố mẹ của bị cáo đã già yếu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chính sách nhân đạo của pháp luật, giảm hình phạt cho bị cáo.
- Quan điểm của người bị hại là anh Nguyễn Văn H: Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo không quan tâm thăm hỏi người bị hại nên tại cấp phúc thẩm thì phía người bị hại không xin giảm hình phạt cho bị cáo; sau khi xét xử sơ thẩm, người bị hại vẫn phải tiếp tục điều trị các thương tích do bị cáo gây ra nên đề nghị Tòa án buộc bị cáo phải bồi thường các khoản này cho người bị hại.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xử đúng người, đúng tội, mức án áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho anh H, nộp xong án phí dân sự, hình sự sơ thẩm như bản án sơ thẩm đã tuyên; hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ của bị cáo đã bỏ đi, bố mẹ của bị cáo đã già yếu và đánh giá trong vụ án này thì phía người bị hại cũng có một phần lỗi là nguyên nhân làm xảy ra vụ án. Đối với yêu cầu của người bị hại tại phiên tòa về việc buộc bị cáo phải bồi thường thêm một số khoản phát sinh khác nhưng xét thấy sau khi xét xử sơ thẩm phía người bị hại không kháng cáo, tại phiên tòa phúc thẩm giữa bị cáo và người bị hại không thỏa thuận được với nhau về vấn đề này nên anh Nguyễn Văn H có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bị hại và của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
Các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố cũng như hành vi của những người tiến hành tố tụng trong quá T điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Về nội dung:
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do người bị hại có mâu thuẫn với bị cáo trong lời nói và thách thức hẹn bị cáo để đánh nhau nên khoảng 22 giờ 10 phút ngày 28/4/2023, tại khu vực Khu dân cư mới thôn TX, xã ĐX, huyện GL, tỉnh HD, anh Nguyễn Văn H cầm dao (dạng dao Thái) dài khoảng 20 cm đuổi và đánh nhau với Nguyễn Trọng T; quá trình đánh nhau thì người bị hại là anh Nguyễn Văn H bị bị cáo T dùng 01 thanh gỗ nhặt được ở ven đường có kích thước (100 x 5 x 2,5) cm rồi sử dụng đánh vào vùng mạn sườn trái và đỉnh đầu; hậu quả làm cho anh H bị chấn thương bụng kín; chấn thương sọ não kín gây vỡ lún xương đỉnh thái dương trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 54%.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Trong lúc đánh nhau với anh H, bị cáo nhận thức rõ việc dùng gậy gỗ cứng đánh vào vùng mạn sườn và vùng đỉnh đầu anh H có thể tước đoạt tính mạng của anh H nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả anh H không chết là nằm ngoài ý thức của bị cáo. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự, Tòa án nhân dân tỉnh HD xét xử bị cáo và áp dụng mức hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 123, Điều 57 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
. Xét kháng cáo của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 70.000.000 đồng; trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; trong vụ án này bị hại có một phần lỗi dẫn đến sự việc. Tại phiên tòa phúc thẩn, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho anh H, nộp xong án phí dân sự, hình sự sơ thẩm như bản án sơ thẩm đã tuyên, bị cáo tiếp tục thể hiện sự thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải. Đồng thời, đánh giá tổng thể vụ án thấy việc người bị hại cũng có một phần lỗi là nguyên nhân dẫn đến xảy ra vụ án, hiện nay gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, sau khi bị cáo bị bắt tạm giam thì vợ của bị cáo đã bỏ đi, bố mẹ của bị cáo đã già yếu nhưng hiện nay đang phải chăm sóc các con của bị cáo đang còn nhỏ (có xác nhận của chính quyền địa phương). Do đó, để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật và cũng là tạo điều kiện cho bị cáo có động lực cố gắng phấn đấu cải tạo tốt để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập xã hội, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu tại phiên tòa.
Đối với ý kiến của người bị hại về việc yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thêm cho người bị hại thấy sau khi xét xử sơ thẩm, người bị hại không kháng cáo, tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại và bị cáo không thỏa thuận được về việc bồi thường thêm. Do đó, người bị hại có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt áp dụng đối với bị cáo như sau:
1. Áp dụng khoản 2 Điều 123, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 57, Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 05 (năm) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận bị cáo Nguyễn Trọng T đã bồi thường xong cho anh Nguyễn Văn H số tiền 75.160.998 đồng (bao gồm số tiền 70.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại tại cấp sơ thẩm và 5.160.998 đồng bồi thường tại cấp phúc thẩm) theo Biên lai thu số 0000512 ngày 12/01/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh HD (do ông Vũ Văn Quảng nộp thay).
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải nộp.
Xác nhận bị cáo đã nộp xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu số 0000512 ngày 12/01/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh HD (do ông Vũ Văn Quảng nộp thay).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo (thông qua trại tạm giam); - Lưu: HSVA, P.HCTP-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hồng Sơn |