- Tranh chấp gì? án hình sự — "65 26-3 Đoàn Xuân B 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đoàn Xuân B1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 26 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc Hà
2. Bà Phan Thị Diễm
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Viết Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Đoàn Xuân B; sinh năm 1994; tại Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: 3 Đường số D, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố H, chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Xuân Y và bà Lâm Thị Mỹ L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 24/4/2013, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo bản án số 78/2013/HSST). Ngày 15/01/2015, chấp hành xong hình phạt tù, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/6/2013.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2023 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1992; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: A N, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Xuân B1 là đối tượng không nghề nghiệp, không có nơi cư trú nhất định và nghiện ma túy. Để có tiền trả tiền thuê nhà và mua ma túy sử dụng, vào khoảng 23 giờ, ngày 04/11/2023, B1 đi qua phòng của anh Nguyễn Anh T (đang thuê trọ tại nhà của anh Đoàn Xuân N (anh ruột của B1) tại địa chỉ A N, Phường B, Quận H), B1 lén lút lấy chìa khóa xe Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85 của anh T rồi đi xuống nhà, dắt xe mô tô biển số 50Y1-258.85 đi ra ngoài rồi đóng cửa lại, B1 cắm chìa khóa khởi động xe rồi điều khiển bỏ đi.
Đến sáng ngày 05/11/2023, B1 liên lạc với một người bạn của B1 tên là B2 (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Facebook là “Teri T”. B1 sử dụng tài khoản Facebook của B1 là “Bình Đ” để liên lạc với B2 và đề nghị B2 nhận cầm xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y-258.85, B2 đồng ý cầm xe này cho B1 với giá 6.000.000 đồng, lãi suất mỗi tuần là 250.000 đồng. B1 chỉ nói cho B2 biết là xe của anh N, không nói cho B2 biết là do B1 lấy trộm. Khoảng 14 giờ, ngày 05/11/2023, B1 điều khiển xe mô tô trên đến đầu hẻm G X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giao xe cho B2. Sau khi nhận được tiền, B1 tiêu xài cá nhân hết rồi ngủ ở gầm cầu N. Anh N gọi điện thoại cho B1 nói vụ việc B1 trộm xe đã trình báo Công an nên sáng ngày 11/11/2023, B1 đi về Quận H để đầu thú. Khi về đến nhà thì Công an P, Quận H đưa B1 về trụ sở làm việc. Tại trụ sở Công an P, Quận H, B1 khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85. Công an P, Quận H tiến hành lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Đoàn Xuân B1 khai nhận: Việc trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y-258.85 do một mình B1 thực hiện, không có ai tham gia cùng. Mục đích B1 trộm xe là để cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vào thời điểm B1 trộm cắp chiếc xe mô tô trên thì B1 biết xe này thuộc sở hữu của anh Nguyễn Anh T, do khi bán xe cho anh T thì anh N có nói cho B1 biết là đã bán xe cho anh T nhưng không nói cho B1 biết là bán bao nhiêu tiền.
Anh Nguyễn Anh T khai: Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 04/11/2023, anh T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85 về đến nhà số A N, Phường B, Quận H, rồi dựng xe ở trong nhà, cầm chìa khóa lên phòng để nằm nghỉ rồi đi tắm. Sau khi tắm xong, anh T phát hiện chìa khóa xe mô tô trên đã bị mất. Anh T đi xuống nhà kiểm tra thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85 cũng bị mất. Do trời đã khuya, anh T còn có công việc gấp nên đến ngày 11/11/2023, anh T đến Công an P, Quận H trình báo vụ việc trên và trích xuất dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh B1 trộm cắp xe mô tô của anh T giao nộp cho Công an P, Quận H. Xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85 do anh T mua lại của anh Đoàn Xuân N vào ngày 25/8/2023 với giá 25.000.000 đồng. Anh T đã trả đủ tiền cho anh N. Giữa anh T và anh N có viết giấy tay về việc mua bán xe trên. Anh T1 chưa làm thủ tục đổi tên chủ sở hữu theo quy định.
Anh Đoàn Xuân N khai: Vào khoảng gần 23 giờ 30 phút, ngày 04/11/2023, trong lúc anh N đang đi công việc ở bên ngoài thì anh Nguyễn Anh T gọi điện thoại cho anh N báo rằng xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y-258.85 đã bị mất. Anh N kiểm tra camera phát hiện em ruột của anh N là Đoàn Xuân B1 là người lấy trộm chiếc xe trên. Sau đó, anh N có gọi điện thoại nói cho B1 biết là vụ việc trên đã trình báo cơ quan Công an, mục đích là dọa cho B1 sợ để mang xe về trả lại cho anh T. Đến sáng ngày 11/11/2023, B1 về đến nhà thì Công an P, Quận H mời B1 về trụ sở làm việc. Anh N được biết B1 đã cầm xe mô tô này cho B2 với giá 6.000.000 đồng, do trước đây B2 có hay qua nhà anh N chơi nên anh N sử dụng số điện thoại 0248720123 gọi vào số điện thoại của B2 là 0924172816 để nói cho B2 biết là B1 lấy trộm xe mô tô trên cầm cố cho B2 nên B2 nói sẽ trả lại xe mô tô trên cho anh N mà không cần trả lại tiền cầm cố cho B2.
Khoảng 17 giờ, ngày 11/11/2023, B2 gọi điện thoại cho anh N thông qua số điện thoại trên nói anh N đến đầu hẻm A N, Phường B, Quận H để lấy xe mô tô trên nên anh N báo cho Công an P, Quận H biết rồi cùng Công an P, Quận H đến địa chỉ trên thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y 1-258.85 đang dựng không người trông coi, cũng không nhìn thấy B2. Anh N gọi điện thoại cho B2 không được nên anh N giao nộp xe này cho Công an P, Quận H. Xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85 do anh N mua mới vào năm 2020 với giá 22.500.000 đồng. Vào ngày 25/8/2023, anh N bán xe mô tô này lại cho anh Nguyễn Anh T với giá 25.000.000 đồng. Anh N đã nhận đủ tiền của anh T, giữa anh N và anh T có viết giấy tay về việc mua bán xe trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 214/KL-HĐĐGTS ngày 13/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận H kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85 có trị giá là 17.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85, số khung: 7634JZ002269, số máy: JC76E030417 do anh Đoàn Xuân N đứng tên chủ sở hữu. Ngày 25/8/2023, anh N bán xe mô tô này lại cho anh Nguyễn Anh T. Do đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Anh T nên ngày 18/12/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô này cho anh T.
- Dữ liệu điện tử: 01 USB ghi nhận hình ảnh Đoàn Xuân B1 trộm cắp tài sản, do anh Nguyễn Anh T giao nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Anh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKS-Q8 ngày 28/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đoàn Xuân B1 về tội “Trộm cắp tài sảntheo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đoàn Xuân B1 về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại đã nhận lại tài sản và xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét. Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Anh T nên ngày 18/12/2023, Cơ quan CSĐT-CAQ8 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô này cho anh T nên không xem xét. Dữ liệu điện tử: 01 USB ghi nhận hình ảnh Đoàn Xuân B1 trộm cắp tài sản, do anh Nguyễn Anh T giao nộp có giá trị chứng minh tội phạm nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 23 giờ, ngày 04/11/2023, tại nhà số A N, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đoàn Xuân B1 có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85, là tài sản của anh Nguyễn Anh T, có trị giá là 17.000.000 đồng.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Đoàn Xuân B1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Năm 2013, bị cáo đã bị kết án về hành vi cướp giật tài sản, mặc dù không coi là án tích nhưng Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân bị cáo.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo ra đầu thú; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- Xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 50Y1-258.85 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Anh T. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại là phù hợp quy định pháp luật. Đồng thời, bị hại cũng không có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Dữ liệu điện tử: 01 USB ghi nhận hình ảnh Đoàn Xuân B1 trộm cắp tài sản là tài liệu, chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm, tình tiết vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông tên B2 nhận cầm cố xe, qua xác minh không xác định được lai lịch. Mặt khác, khi cầm xe cho B2, B1 không nói cho B2 biết là tài sản do B1 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý, do dó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đoàn Xuân B1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2023.
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đoàn Xuân B1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quận 8; - VKSND TP. HCM; - CQĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Trại tạm giam Chí Hòa; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |