- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - Phạm Bá Q và đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Q; Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 11-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Đăng Cường và B
Bà Lê Thị Lâm
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Uyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Bá Q - sinh năm 2005; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKTT và chỗ ở: thôn 9, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Phạm Bá Tuyến - sinh năm: 1967; Con bà: Nguyễn Thị Bảy - sinh năm: 1968; Anh chị em ruột: bị can là con một; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đỗ Hữu V - sinh ngày 20/02/2007; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKTT và chỗ ở: thôn 8, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Đỗ Hữu L - sinh năm: 1980; Con bà: Đỗ Thị Chuyền - sinh năm: 1983; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Hữu V
+ Ông Đỗ Hữu L, sinh năm 1980 (là bố đẻ)
+ Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1983 (là mẹ đẻ). Có mặt tại phiên tòa.
Cùng địa chỉ: Thôn 8, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
3. Họ và tên: Đỗ Văn L - sinh ngày 07/3/2007; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKTT và chỗ ở: thôn 7, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Đỗ Văn L2 - sinh năm: 1986; Con bà: Nguyễn Thị T - sinh năm: 1988; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị can là con đầu; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Văn L:
+ Ông Đỗ Văn L2, sinh năm 1986 (là bố đẻ)
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 (là mẹ đẻ). Có mặt tại phiên tòa.
Cùng địa chỉ: Thôn 8, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
4. Họ và tên: Đỗ Kim N - sinh ngày 14/6/2007; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKTT và chỗ ở: thôn 6, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Đỗ Kim Yên - sinh năm: 1980; Con bà: Nguyễn Thị Ly - sinh năm: 1981; Anh chị em ruột: Gia đình có 04 anh chị em, bị can là con thứ 3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Kim N:
+ Ông Đỗ Kim Y, sinh năm 1980 (là bố đẻ)
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1981 (là mẹ đẻ). Có mặt tại phiên tòa.
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
* Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Hữu V, Đỗ Văn L, Đỗ Kim N: Bà Nguyễn Thị Hà- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Thế C, sinh ngày 13/10/2007
Địa chỉ: Thôn 3, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Thế C:
+ Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1982 (là bố đẻ)
+ Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1984 (là mẹ đẻ)
Cùng địa chỉ: Thôn 3, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
+ Anh Phan Huy Anh T1, sinh ngày 30/10/2007
Địa chỉ: Thôn HT 3, xã HT, huyện PT, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của anh Phan Huy Anh T1:
+ Ông Phan Huy H, sinh năm 1986 (là bố đẻ)
+ Bà Hoàng Thị Thảo, sinh năm 1981 (là mẹ đẻ)
Cùng địa chỉ: Thôn HT 3, xã HT, huyện PT, thành phố Hà Nội
+ Anh Đỗ Kim T2, sinh ngày 08/01/2008
Địa chỉ: Thôn 6, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của anh Đỗ Kim T2:
+ Ông Đỗ T, sinh năm 1974 (là bố đẻ)
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 (là mẹ đẻ)
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
+ Anh Đỗ Kim P, sinh ngày 10/01/2008
Địa chỉ: Thôn 6, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của anh Đỗ Kim P:
+ Bà Đỗ Thị Kim H, sinh năm 1984 (là mẹ đẻ)
Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội.
+ Anh Nguyễn Duyên Đ, sinh ngày 30/10/2007
Địa chỉ: Thôn 1, xã PC, huyện QA, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Duyên Đ:
+ Ông Nguyễn Duyên L, sinh năm 1973 (bố đẻ)
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 (là mẹ đẻ)
Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã PC, huyện QA, thành phố Hà Nội.
+ Anh Nguyễn Hữu L, sinh ngày 09/4/2008
Địa chỉ: Thôn 3, xã PC, huyện QA, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Hữu L:
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 (là mẹ đẻ)
Địa chỉ: Thôn 3, xã PC, huyện QA, thành phố Hà Nội.
Người làm chứng và người đại diện hợp pháp vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 7/2023, Nguyễn Thế C (Sinh ngày: 13/10/2007, HKTT: thôn , xã LH, huyện PT) cùng Phạm Bá Q (Sinh ngày: 06/02/2005, HKTT: thôn 9, xã LH, huyện PT), Đỗ Văn L (Sinh năm: 07/3/2007, HKTT: thôn 7, xã LH, huyện PT), Đỗ Hữu V (Sinh ngày: 20/02/2007, HKTT: thôn 8, xã LH, huyện PT) đi chơi tại khu vực bể bơi Minh Tâm thuộc xã DN, huyện TT thì bị 01 nhóm thanh niên lạ mặt đuổi đánh.
Ngày 31/8/2023, C rủ L, Phan Huy Anh T1 (Sinh năm: 30/10/2007, HKTT: thôn HT 3, xã HT, huyện PT) và Đỗ Kim T2 (Sinh năm: 08/01/2008, HKTT: thôn 6, xã LH, huyện PT) làm hung khí tìm nhóm thanh niên ở TT để đánh, L, T1, T2 đồng ý. Khoảng 15 giờ ngày 31/8/2023, T1 và L đến khu vực Chợ Xấu thuộc huyện HĐ, thành phố Hà Nội để mua 03 (ba) thanh tuýp sắt, mỗi thanh dài 2m, đường kính khoảng 2cm về nhà T2 ở thôn 6, xã LH, huyện PT chế tạo 01 (một) tuýp sắt gắn dao bầu mũi nhọn, 01 tuýp sắt gắn dao phay mũi vuông và 01 thanh tuýp. Sau khi làm xong thì số hung khí được T2 cất giấu tại nhà T2.
Khoảng 20 giờ ngày 31/8/2023, Nguyễn Thế C, Phan Huy Anh T1, Đỗ Văn L, Đỗ Kim T2, Phạm Bá Q, Đỗ Hữu V, Đỗ Kim P, (Sinh ngày: 10/01/2008, HKTT: thôn 5, xã LH, huyện PT) và Đỗ Kim N (Sinh ngày: 14/6/2007, HKTT: thôn 6, xã LH, huyện PT) hẹn nhau đến sân bóng xã LH để chơi. Tại đây, C nói với cả nhóm: “Đi gỡ lại vụ hôm trước không” thì tất cả đồng ý và hẹn nhau tập trung tại cây xăng LH, huyện PT. Sau đó, Q, T2, P về nhà T2 lấy hung khí rồi mang đến cây xăng LH rồi đưa cho C thanh tuýp, N tuýp gắn dao phay, T1 tuýp gắn dao bầu, C nhặt 01 cái đinh ba ở gốc cây tại cây xăng LH gắn vào thanh tuýp, T2 lấy 08 (tám) vỏ chai bia thủy tinh ở bụi cây tại cây xăng LH và đưa cho P 03 (ba) vỏ chai bia. Lúc này, L gọi Nguyễn Duyên Đ (Sinh ngày: 30/10/2007, HKTT: thôn 1, xã PC, huyện QA) đến để đi đánh nhau, Đ đồng ý và rủ Nguyễn Hữu L (Sinh ngày: 09/4/2008, HKTT: thôn 3, xã PC, huyện QA) đi cùng. Khi đi Đ mang theo 01 kiếm tự chế dài khoảng 70cm gài dọc thân xe máy. Q điều khiển xe máy không BKS chở T2 cầm 05 vỏ chai bia; L điều khiển xe máy BKS: 29Z4- 5646 chở T1 cầm Tuýp gắn dao bầu; V điều khiển xe máy BKS: 29L5- 522.84 chở C cầm đinh ba; P điều khiển xe máy BKS: 16M1- 6227 chở N cầm Tuýp gắn dao phay và 03 vỏ chai bia đi theo đường 420 đến cây xăng DN - TT rẽ vào xã HB rồi cả nhóm quay lại đường 420 rẽ vào đường bể bơi M. Khoảng 05 phút sau, L điều khiển xe máy BKS: 29V7- 660.62 chở Đ đến khu vực cây xăng DN - TT thì P đến đón, rồi cả nhóm 10 người đi theo hướng xã DN - HB. Khi đi, cả nhóm C đi xe với tốc độ cao, rú ga, bóp còi, lạng lách, đánh võng, cầm hung khí thị uy. Khi đi qua UBND xã HB khoảng 100 mét, xe của V va chạm với xe của P rồi ngã ra đường làm V và C bị xây sát da. Sau đó, Đ cầm tuýp gắn đinh ba mà C làm rơi, đi đến cây xăng Nhật Thu thuộc xã PX thì Đ lại đưa lại tuýp gắn đinh ba cho C cầm. Sau đó cả nhóm 10 người đi 05 xe máy cầm theo hung khí từ cây xăng N xã PX đến cây xăng xã CS qua địa bàn các xã BP, TX, CS. Khi đến cây xăng CS thì cả nhóm rẽ vào đường UBND xã CS - TT và đi đường 420 về cây xăng DN rẽ vào đường UBND xã DN và cả nhóm đi về cầu giáp danh giữa xã DN và xã HT. Lúc này V và C nói đi về và đưa lại tuýp gắn đinh ba cho T1 và T1 đưa tuýp sắt gắn dao bầu cho N (lúc này dao bầu đã gãy rơi còn mỗi tuýp). Sau khi cầm tuýp sắt thì N và T2 giấu tuýp gắn dao phay, để lại vỏ chai bia tại mép đồng xã DN - TT. Sau đó, Q chở T1 cầm tuýp gắn đinh ba, L chở T2 cầm 03 vỏ chai bia, P chở N cầm tuýp sắt, L chở Đ cầm thanh kiếm tự chế đi đến cây xăng xã DN rẽ vào đường 420 và rẽ vào lối đi xã TX đến đường liên xã HB - TX và tiếp tục đi đến ngã tư thôn G, xã HB và đi vào đường liên xã PH - HB. Khoảng 22 giờ ngày 31/8/2023, cả nhóm gặp lực lượng tuần tra kiểm soát thì Q và T1 bị giữ còn những đối tượng còn lại bỏ chạy. Khi đi đến cầu C thuộc xã BP thì N vứt bỏ tuýp sắt, Đ vứt thanh kiếm xuống khu vực Cống Ngòi thuộc xã BP.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda, dạng giống loại xe Wave màu đen không yếm, không mặt đèn, không đeo BKS, số khung: RLHHC12079Y517646, số máy: HC12E - 1537526, đã qua sử dụng do Phạm Bá Q giao nộp.
- 01 (Một) thanh tuýp sắt gắn đinh ba có tổng chiều dài 2,74 mét, một đầu tuýp sắt đập móp méo gắn vào chuôi đinh ba, phần tuýp dài 2m, phần đinh ba dài 74cm, đinh ba dài có 03 mũi nhọn, mũi ở giữa dài 60cm, 2 mũi còn lại mỗi mũi dài 34cm do Phạm Bá Q giao nộp.
- 02 (Hai) vỏ chai thuỷ tinh màu nâu nhãn hiệu bia Hà Nội.
- 01 (Một) thanh tuýp sắt bằng kim loại dạng ống tròn đường kinh 2cm dài 2,35m một đầu gắn 01 con dao phay có 01 lưỡi sắc dài 40cm phần chuôi dao bằng kim loại dài 10cm bản rộng nhất 6cm đã qua sử dụng.
- 02 ảnh chụp một số thanh niên điều khiển xe máy cầm hung khí tự chế trên đường.
- 01 đoạn video có độ dài 32 giây thu giữ tại camera giám sát của Công an xã DN, thể hiện các đối tượng đi xe máy phóng nhanh mang theo hung khí gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, hoang mang trong quần chúng nhân dân.
- 01 đoạn video có độ dài 22 giây thu giữ tại camera giám sát của Công an xã DN, thể hiện các đối tượng đi xe máy phóng nhanh mang theo hung khí gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, hoang mang trong quần chúng nhân dân.
- 02 đoạn video mỗi đoạn dài 04 giây, 01 video dài 09 giây ghi lại hình ảnh một số nam thanh niên cầm hung khí tự chế đi bên đường được thu giữ tại điện thoại Iphone 11 của Đỗ Kim P.
Đối với Nguyễn Thế C, Nguyễn Duyên Đ, Đỗ Kim T2, Đỗ Kim P, Phan Huy Anh T1 tại thời điểm xảy ra vụ việc chưa đủ 16 tuổi nên C, Đ, T2, P, T1 không phải chịu trách nhiệm hình sự. Thời điểm khởi tố vụ án Nguyễn Thế C, Nguyễn Duyên Đ, Đỗ Kim T2, Đỗ Kim P, Phan Huy Anh T1 đã trên 16 tuổi dưới 18 tuổi, Công an huyện TT đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên bằng hình thức “Cảnh cáo” là có căn cứ và đúng quy định.
Đối với Nguyễn Hữu L, tại thời điểm xảy ra vụ việc chưa đủ 16 tuổi nên L không phải chịu trách nhiệm hình sự, thời điểm khởi tố vụ án L chưa đủ 16 tuổi, Cơ quan điều tra có công văn đề nghị UBND xã PC áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, dạng giống loại xe Wave màu đen không yếm, không mặt đèn, không đeo BKS, số khung: RLHHC12079Y517646, số máy: HC12E - 1537526, ngày 22/5/2022 Phạm Bá Q mua lại của anh Lê Văn V, sinh ngày: 1987, HKTT: Số 46 tổ 14 phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã chuyển chiếc xe máy trên đến Chi cục thi hành án dân sự huyện TT để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen xám, BKS: 29Z4-5646 do Đỗ Văn L điều khiển, chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị Thủy - mẹ của Đỗ Văn L, chị thủy mua lại của một người không quen biết vào giữa năm 2023. Ngày 31/8/2023 L tự ý lấy xe máy đi, chị Thủy không hay biết, sau khi vụ việc xảy ra chị Thủy đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết, không có giấy tờ. Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe trên.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 29L5- 522.84 do Đỗ Hữu V điều khiển chở Nguyễn Thế C, chiếc xe trên là của anh Nguyễn Thế H - bố của Nguyễn Thế C, anh H mua lại của một người không quen biết vào giữa năm 2022. Ngày 31/8/2023 C tự ý lấy xe máy đi, anh H không hay biết, sau khi vụ việc xảy ra anh H đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết, không có giấy tờ. Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe trên.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 16M1- 6227, do Đỗ Kim P điều khiển chở Đỗ Kim N, chiếc xe trên là của chị Giang Thị T - dì của Đỗ Kim N, chị T mua lại của một người không quen biết vào năm 2022. Ngày 31/8/2023 N tự ý lấy xe máy đi, chị T không hay biết. Ngày 06/9/2023 chị T đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết, không có giấy tờ. Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe trên.
Đối với chiếc xe máy BKS: 29V7- 660.62 do Nguyễn Hữu L điều khiển, chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị Thanh - mẹ của Nguyễn Hữu L. Ngày 31/8/2023 L tự ý lấy xe máy đi, chị Thanh không hay biết. Ngày 26/11/2023 Nguyễn Hữu L lại sử dụng chiếc xe máy trên để tham gia vụ cố ý gây thương tích tại xã ĐQ, huyện QA, thành phố Hà Nội, ngày 03/12/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện QA đã thu giữ chiếc xe máy trên.
Bản cáo trạng số: 39/CT-VKSTT ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội truy tố Phạm Bá Q, Đỗ Hữu V, Đỗ Văn L, Đỗ Kim N về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Bá Q mức án từ 27 (hai mươi bảy) đến 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 (năm mươi bốn) đến 60 (sáu mươi) tháng. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt Đỗ Hữu V, Đỗ Văn L và Đỗ Kim N mức án từ 18 (mười tám) đến 22 (hai mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 (ba mươi sáu) đến 44 (bốn mươi bốn) tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Hữu V, Đỗ Văn L và Đỗ Kim N sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt Đỗ Hữu V, Đỗ Văn L và Đỗ Kim N mức thấp hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề cập và cho các bị cáo được hưởng án treo vì các bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi vì vậy nhận thức pháp luật còn hạn chế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện TT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 31 tháng 8 năm 2023, trên địa bàn các xã DN, HB, PX, CS, BP, TX thuộc huyện TT, thành phố Hà Nội, Phạm Bá Q chở Đỗ Kim T2 cầm theo 05 vỏ chai bia, Đỗ Văn L chở theo Phan Huy Anh T1 cầm theo tuýp sắt gắn dao bầu, Đỗ Hữu V chở Nguyễn Thế C cầm theo tuýp sắt gắn đinh ba, Đỗ Kim P chở Đỗ Kim N cầm theo tuýp sắt gắn dao phay, Nguyễn Hữu L chở Nguyễn Duyên Đ cầm theo kiếm tự chế có hành vi điều khiển xe máy lạng lách, đánh võng, rú ga, bấm còi inh ỏi, cầm hung khí thị uy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến đời sống tâm lý, gây hoang mang lo sợ cho người dân sinh sống xung quanh.
Với hành vi của các bị cáo đã thực hiện thì các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng “ được quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn và các quy tắc sinh hoạt, làm việc tại nơi công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.
Về vị trí vai trò của các bị cáo: Bị cáo Phạm Bá Q là người trên 18 tuổi, tham gia thực hiện hành vi một cách tích cực nên bị cáo phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Đối với các bị cáo Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N có hành vi cầm theo hung khí là Tuýp sắt gắn dao phay, Tuýp sắt gắn dao bầu, Tuýp sắt gắn đinh ba điều khiển xe máy, rú ga, bấm còi inh ỏi gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến đời sống tâm lý, gây hoang mang lo sợ cho người dân có vai trò, vị trí ngang nhau trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi của các bị cáo đã được ngăn chặn kịp thời nên chưa xảy ra hậu quả lớn hơn. Các bị cáo Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N khi thực hiện hành vi phạm tội đều dưới 18 tuổi nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý đối với người dưới 18 tuổi để áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Phạm Bá Q; Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N có địa chỉ và chỗ ở rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung công 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, dạng giống loại xe Wave màu đen không yếm, không mặt đèn, không đeo BKS, số khung: RLHHC12079Y517646, số máy: HC12E – 1537526.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh tuýp sắt gắn đinh ba có tổng chiều dài 2,74 mét, một đầu tuýp sắt đập móp méo gắn vào chuôi đinh ba, phần tuýp dài 2m, phần đinh ba dài 74cm, đinh ba dài có 03 mũi nhọn, mũi ở giữa dài 60cm, 2 mũi còn lại mỗi mũi dài 34cm; 02 (hai) vỏ chai thuỷ tinh màu nâu nhãn hiệu bia Hà Nội; 01 (một) thanh tuýp sắt bằng kim loại dạng ống tròn đường kinh 2cm dài 2,35m một đầu gắn 01 con dao phay có 01 lưỡi sắc dài 40cm phần chuôi dao bằng kim loại dài 10cm bản rộng nhất 6cm đã qua sử dụng.
- Lưu trong hồ sơ vụ án 02 ảnh chụp một số thanh niên điều khiển xe máy cầm hung khí tự chế trên đường; 01 đoạn video có độ dài 32 giây thu giữ tại camera giám sát của Công an xã DN, thể hiện các đối tượng đi xe máy phóng nhanh mang theo hung khí gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, hoang mang trong quần chúng nhân dân; 01 đoạn video có độ dài 22 giây thu giữ tại camera giám sát của Công an xã DN, thể hiện các đối tượng đi xe máy phóng nhanh mang theo hung khí gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, hoang mang trong quần chúng nhân dân; 02 đoạn video mỗi đoạn dài 04 giây, 01 video dài 09 giây ghi lại hình ảnh một số nam thanh niên cầm hung khí tự chế đi bên đường được thu giữ tại điện thoại Iphone 11 của Đỗ Kim P.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Q; Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65; Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Bá Q 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:
+ Đỗ Hữu V 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
+ Đỗ Văn L 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
+ Đỗ Kim N 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Phạm Bá Q; Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N cho UBND xã LH, huyện PT, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi làm việc, nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung công 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, dạng giống loại xe Wave màu đen không yếm, không mặt đèn, không đeo BKS, số khung: RLHHC12079Y517646, số máy: HC12E – 1537526.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh tuýp sắt gắn đinh ba có tổng chiều dài 2,74 mét, một đầu tuýp sắt đập móp méo gắn vào chuôi đinh ba, phần tuýp dài 2m, phần đinh ba dài 74cm, đinh ba dài có 03 mũi nhọn, mũi ở giữa dài 60cm, 2 mũi còn lại mỗi mũi dài 34cm; 02 (Hai) vỏ chai thuỷ tinh màu nâu nhãn hiệu bia Hà Nội; 01 (một) thanh tuýp sắt bằng kim loại dạng ống tròn đường kinh 2cm dài 2,35m một đầu gắn 01 con dao phay có 01 lưỡi sắc dài 40cm phần chuôi dao bằng kim loại dài 10cm bản rộng nhất 6cm đã qua sử dụng.
- Lưu trong hồ sơ vụ án 02 ảnh chụp một số thanh niên điều khiển xe máy cầm hung khí tự chế trên đường; 01 đoạn video có độ dài 32 giây thu giữ tại camera giám sát của Công an xã DN, thể hiện các đối tượng đi xe máy phóng nhanh mang theo hung khí gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, hoang mang trong quần chúng nhân dân; 01 đoạn video có độ dài 22 giây thu giữ tại camera giám sát của Công an xã DN, thể hiện các đối tượng đi xe máy phóng nhanh mang theo hung khí gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, hoang mang trong quần chúng nhân dân; 02 đoạn video mỗi đoạn dài 04 giây, 01 video dài 09 giây ghi lại hình ảnh một số nam thanh niên cầm hung khí tự chế đi bên đường được thu giữ tại điện thoại Iphone 11 của Đỗ Kim P.
(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT, thành phố Hà Nội quản lý theo Biên bản giao nhận tài sản, tang vật số 51/2024, ngày 03/5/2024)
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Phạm Bá Q; Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghình đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo Phạm Bá Q; Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Hữu V; Đỗ Văn L và Đỗ Kim N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyến án.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - VKSND huyện TT; - Công an huyện TT; - CCTHADS huyện TT; - UBND xã LH, huyện PT; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tất Thành |