- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị Thúy L - Đặng Văn U"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Thúy A được ly hôn với anh Đặng Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/6/2024 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 112/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06/3/2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh
- Bị đơn: Anh B, sinh năm 1986
Địa chỉ: ấp X, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu
(Chị A có đơn xin vắng mặt; anh B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lâm Thị Thúy A trình bày: Chị A và anh Đặng Văn B chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/4/2015, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 02 người con là cháu Đặng Lâm Nhật M, sinh ngày 15/7/2016 và cháu Đặng Lâm Gia H, sinh ngày 06/02/2019. Trong thời gian chung sống vợ chồng, chị A và anh B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh B không chăm lo gia đình, đời sống kinh tế gia đình không lo, thường xuyên chơi bời. Mặc dù hai bên gia đình có ngăn cản và khuyên nhủ nhưng anh B vẫn không thay đổi. Chị A và anh B đã không sống chung từ năm 2019 cho đến nay, thời gian không sống chung anh B cũng không hỏi thăm, lo lắng cho chị A và các con, nhận thấy cuộc hôn nhân giữa chị và anh B đã không còn hàn gắn được nữa, cuộc hôn nhân không hạnh phúc, nên chị A xin được ly hôn với anh B. Về con chung chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Văn B đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh B.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Thị Thúy A được ly hôn với anh Đặng Văn Út. Về con chung giao 02 người con là cháu Đặng Lâm Nhật M, sinh ngày 15/7/2016 và cháu Đặng Lâm Gia H, sinh ngày 06/02/2019 cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị A và anh B tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/4/2015, tại Ủy ban nhân dân xã Tòa, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B và giải quyết về con chung sau khi ly hôn nên đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh B hiện đang cư trú tại ấp X, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã R theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Chị A là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; anh B là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.
Về hôn nhân:
Trong thời gian chung sống vợ chồng, chị A và anh B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh B không chăm lo gia đình, đời sống kinh tế gia đình không lo, thường xuyên chơi bời. Mặc dù hai bên gia đình có ngăn cản và khuyên nhủ nhưng anh B vẫn không thay đổi. Chị A nhận thấy cuộc hôn nhân giữa chị và anh B đã không còn hàn gắn được nữa, cuộc hôn nhân không hạnh phúc, nên chị xin được ly hôn. Giữa chị A và anh B cũng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cả hai không liên lạc thăm nhau, tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Út.
Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án đã hòa giải để chị A và anh B đoàn tụ nhưng chị A cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh B. Mặc khác, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị A cương quyết xin ly hôn, giữa chị A và anh B cũng sống ly thân thời gian dài, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của ông bà đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị A và anh B có 02 người con là Đặng Lâm Nhật M, sinh ngày 15/7/2016 và cháu Đặng Lâm Gia H, sinh ngày 06/02/2019, khi ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con vì hiện tại các con đang sống chung với chị và được chị chăm lo cho đi học, mặc khác từ năm 2019 đến nay anh B không đến thăm con cũng không gửi kinh phí lo cho con đi học. Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện tại cháu cháu M và cháu H đang sống chung với chị Lan, được chị A chăm lo cho đi học, do đó để tránh làm sáo trộn cuộc sống hiện tại của các cháu, ảnh hưởng đến tâm sinh lý phát triễn của cháu, Hội đồng xét xử giao giao cháu M và cháu H cho chị A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị A xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không có căn cứ xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị A phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82, 83Luật hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Thúy A được ly hôn với anh Đặng Văn B.
2. Về con chung: Giao 02 người con là cháu Đặng Lâm Nhật M, sinh ngày 15/7/2016 và cháu Đặng Lâm Gia n, sinh ngày 06/02/2019 cho chị Lâm Thị Thúy A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Minh và cháu Hân hiện tại đang sống chung với chị A nên được giữ nguyên.
- Anh Đặng Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu.
- Anh Đặng Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Thị Thúy A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị Lâm Thị Thúy A có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Lâm Thị Thúy A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số: 0008528, ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - CCTHADS cùng cấp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |