- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn anh Nông Văn H, bị đơn chị Bùi Thị Ngọc H"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH Y | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST Ngày 04-7-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Hà Thị Thoan;
2- Ông Triệu Văn Huấn.
Thư ký phiên toà: Bà Lương Thuỳ Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L-tỉnh Y.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Ông Lý Văn Tầm- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 45/2024/QĐST -HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nông Văn H 24 tuổi
Địa chỉ: Thôn 9 xã ML- huyện L- tỉnh Y, có mặt.
Bị đơn: Chị Bùi Thị Ngọc H1 22 tuổi
Địa chỉ: Thôn 9 xã ML- huyện L- tỉnh Y, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 25-3-2024 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là anh Nông Văn H trình bày: Anh và chị Bùi Thị Ngọc H1 kết hôn tháng 11 năm 2022 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã ML- huyện L- tỉnh Y. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc, đến đầu năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H1 có quan hệ tình cảm với người khác, không chăm lo cho gia đình, chồng con dẫn đến cãi, chửi nhau, sau đó để con cho anh nuôi dưỡng rồi bỏ đi. Hiện tại hai người sống ly thân, chị H1 đã cắt liên lạc với anh. Xác định vợ chồng không còn tình cảm anh đề nghị giải quyết cho ly hôn. Anh và chị H1 có một con chung là Nông Đặng G H sinh ngày 17-10-2022 hiện đang ở cùng ông nội, ly hôn anh sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2, không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh đang làm lái xe nâng thuê tại tỉnh Bắc Ninh, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 15 triệu đồng, nếu được quyền nuôi con anh sẽ gửi ông nội trực tiếp trông nom, chăm sóc hộ, hàng tháng anh sẽ gửi tiền về để ông chăm lo cho cháu. Thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ của ai.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã ra văn bản thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần và liên lạc trực tiếp qua điện thoại nhưng chị Bùi Thị Ngọc H1 vắng mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ; bị đơn được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, vắng mặt tại phiên toà là chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho anh Nông Văn H được ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc H1; giao con chung là Nông Đặng G H cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa anh Nông Văn H và chị Bùi Thị Ngọc H1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; các đương sự có địa chỉ thường trú tại xã xã ML- huyện L- tỉnh Y nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Mặc dù đã được triệu tập, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị Bùi Thị Ngọc H1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nông Văn H và chị Bùi Thị Ngọc H1 kết hôn năm 2022, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong thời gian qua vợ chồng anh H- chị H1 không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau… Qúa trình giải quyết vụ án Toà án đã ra văn bản thông báo và triệu tập nhiều lần nhằm hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị H1 không có mặt tham gia các phiên hoà giải đã thể hiện không còn thiện chí tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này nữa. Anh Nông Văn H khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa anh H và chị H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nông Văn H có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: Anh Nông Văn H và chị Bùi Thị Ngọc H1 có một cháu là Nông Đặng G H sinh ngày 17-10-2022. Qúa trình giải quyết vụ án anh H đề nghị được nuôi cháu H, không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét hoàn cảnh thực tế cả anh H và chị H1 đều đi làm xa, cháu Nông Đặng G H thường xuyên ở cùng ông nội. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị H1 không có mặt để thể hiện quan điểm về vấn đề nuôi con. Để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, cần giao con chung cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Do anh H không yêu cầu nên chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung; nợ chung: Anh H xác định không có.
[5] Về án phí: Anh Nông Văn H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Nông Văn H được ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc H1.
2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; giao cháu Nông Đặng G H sinh ngày 17-10-2022 cho anh Nông Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Bùi Thị Ngọc H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; anh Nông Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Xác nhận anh H đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2023/0001675 ngày 25-3-2024.
4- Quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Nông Văn H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Bùi Thị Ngọc H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5- Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục T.H.A.D.S huyện; - UBND xã ML; - Các đương sự; - Lưu HS-TA-THS. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Duy Đô |