vanban.org

Bản án 65/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Ông Trần Hữu S được ly hôn bà Huỳnh Thị Mộng T.

Về con chung: Giao các cháu Trần Thiện N, sinh ngày 08/5/2011 và Trần Thảo N1, sinh ngày 22/6/2013 cho ông Trần Hữu S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Huỳnh Thị Mộng T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Trần Hữu S và bị đơn Huỳnh Thị Mộng T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Trần Hữu S được ly hôn bà Huỳnh Thị Mộng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NK
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2024
Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NK, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hà.

2. Ông Nguyễn Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NK tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Huân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 110/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Hữu S, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Tổ 5, ấp P, xã L, huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có đơn xin vắng mặt”

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Mộng T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Tổ 5, ấp P, xã L, huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và trong quá trình tham gia tố nguyên đơn ông Trần Hữu S trình bày:

Về hôn nhân: Ông Trần Hữu S và bà Huỳnh Thị Mộng T kết hôn năm 2010, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ép buộc, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 25/10/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại ấp P, xã L, huyện NK. Vợ, chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà T làm ăn gây nợ nần nhiều nên vợ chồng thường xuyên bất đồng trong cuộc sống. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn sống chung. Nay, ông S nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyến cho ông S được ly hôn bà T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông S và bà T có hai con chung là Trần Thiện N, sinh ngày 08/5/2011 và Trần Thảo N1, sinh ngày 22/6/2013, hiện nay đang sống với ông S. Khi ly hôn ông S yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi các con chung và không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – bà Huỳnh Thị Mộng T vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 110/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 và các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải kèm theo giấy triệu tập bà T đến Tòa án để làm việc, nhưng bà T đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến về nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các phiên tòa sơ thẩm là chưa chấp hành pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Trần Hữu S được ly hôn bà Huỳnh Thị Mộng T; về con chung, đề nghị giao các cháu Trần Thiện N, Trần Thảo N1 cho ông S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Tòa án nhân dân huyện NK nhận định:

. Về tố tụng: Bị đơn bà Huỳnh Thị Mộng T có nơi cư trú tại xã L, huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 12/8/2024, nguyên đơn ông Trần Hữu S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà Huỳnh Thị Mộng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa sơ thẩm ngày 13/9/2024 và ngày 30/9/2024 nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt ông S và bà T theo quy định.

. Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số I/2010, ngày 25/10/2010 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xác định hôn nhân giữa ông Trần Hữu S và bà Huỳnh Thị Mộng T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà T gây nợ nần ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Hai bên đã ly thân từ năm 2021 đến nay không còn phụ thuộc nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Nay, ông S xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông S được ly hôn bà T. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa ông S và bà T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho ông S được ly hôn bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông S và bà T có hai con chung là Trần Thiện N, sinh ngày 08/5/2011 và Trần Thảo N1, sinh ngày 22/6/2013. Xét thấy, hiện nay các con chung đang sống cùng ông S và có nguyện vọng được sống với ông S khi ông S và bà T ly hôn, vì vậy giao cháu N và cháu N1 cho ông S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông S không yêu cầu nên bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản và nợ chung: Ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn ông Trần Hữu S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Ông Trần Hữu S được ly hôn bà Huỳnh Thị Mộng T.

2. Về con chung: Giao các cháu Trần Thiện N, sinh ngày 08/5/2011 và Trần Thảo N1, sinh ngày 22/6/2013 cho ông Trần Hữu S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Huỳnh Thị Mộng T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc các tổ chức, cá nhân được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phi: Ông Trần Hữu S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004909 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông Trần Hữu S đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tổng đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ