vanban.org

Bản án 65/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ngọc H và anh Phạm Văn D.

Về việc nuôi con chung: 1. Chị Lê Thị Ngọc H được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Ngân Q, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị H và anh D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ngọc H và anh Phạm Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2024
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc H, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1991; Nơi cư trú: Ấp LT2, xã LH, huyện PT, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp A, xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 4 năm 2024 và biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 5 năm 2024 của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H trình bày: Vào năm 2015, chị quen biết với anh Phạm Văn D và tìm hiểu được một thời gian rồi tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới trong năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới xong hai vợ chồng cùng nhau đi làm tại tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu hai vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn chuyện tình cảm, anh D gia trưởng, vợ chồng không có tiếng nói chung, sống chung không còn hạnh phúc, tháng 11 năm 2019 chị dọn đồ về nhà cha mẹ ruột của sinh sống tại ấp Long Thạnh 2, xã Long Hòa, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, từ đó chị và anh D đã không còn chung sống cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn D. Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Phạm Ngân Q, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2019, không yêu cầu anh Phạm Văn D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phạm Văn D đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Phạm Văn D; về nuôi con chung: Giao con chung Phạm Ngân Q, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2019 cho chị Lê Thị Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng, anh Phạm Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc H trình bày không có, còn anh Phạm Văn D không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phạm Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị Ngọc H và anh Phạm Văn D là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Ngọc H đối với anh Phạm Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Lê Thị Ngọc H thì cuộc sống của chị và anh Phạm Văn D không còn hạnh phúc từ năm 2019 do phát sinh mâu thuẫn chuyện tình cảm, anh D gia trưởng, vợ chồng không có tiếng nói chung, sống chung không còn hạnh phúc và đã không còn sống chung với nhau từ tháng 11 năm 2019 cho đến nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị H và anh D hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Lê Thị Ngọc H ly hôn với anh Phạm Văn D.

Về việc nuôi con chung: Chị Lê Thị Ngọc H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Phạm Ngân Q, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2019, không yêu cầu anh Phạm Văn D cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị H và anh D không còn sống chung và hiện nay thì con chung do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc H cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Phạm Văn D không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H, cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ngọc H và anh Phạm Văn D.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Chị Lê Thị Ngọc H được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Ngân Q, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2019.

2.2. Anh Phạm Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Ngọc H chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006069 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ