vanban.org

Bản án 65/2024/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C. C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H bà Nguyễn Thị Hằng ngày 04/02/2017 là hợp pháp.

Giao cho ông Nguyễn Văn C bà Nguyễn Thị T diện tích 197,3m2 đất ở có vị trí và kích thước như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295 có các cạnh 1 -2 chiều dài 10,09 m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất có các cạnh 9 -10 chiều dài 6,53 m; Phía Nam giáp đất nhà ông Nguyễn Văn H có các cạnh 2 -9 chiều… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CNQSDĐ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C. C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H bà Nguyễn Thị Hằng ngày 04/02/2017 là hợp pháp.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 105 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/DS- ST
Ngày 23/9/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng đổi
QSD đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chỉnh, ông Nguyễn Xuân Chung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân LN, BG

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 23/9/2024, tại Tòa án nhân dân Hện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử C khai vụ án dân sự thụ lý số 70/2024/TLST- DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đổi QSDĐ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXX- ST ngày 09 tháng 8 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/QĐST – DSTC ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, LN, BG

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972 (có mặt)

Bà Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1974 (có đơn xin vắngmặt)

Địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, LN, BG

Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan:

Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1995 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, LN, BG

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1998 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, LN, BG

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964 (có đơn vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, LN, BG

Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, LN, BG

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đông Thịnh, xã Tam Dị, LN, BG

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991

(đã chết):

Cháu Nguyễn T Đ, sinh năm 2011

Cháu Nguyễn Đ T, sinh năm 2014

Địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, LN, BG Chị Nguyễn Thị H đại diện hợp pháp cho cháu Đ và cháu T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 14/5/2024 cùng các lời khai nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:

Gia đình ông có tài sản là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 63, tờ bản đồ số: 91 có diện tích: 221,0 m2 địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, Hện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 483886 do UBND Hện Lục Nam cấp ngày 16/12/2021 (Thửa đất được cấp đổi GCNQSDĐ từ GCN QSDĐ số W 098842 cấp ngày 24/12/2002). Quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông có các mặt tiếp giáp như sau: Phía đông giáp đất nhà ông Nguyễn Văn H; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất; Phía Nam giáp đường vào làng Đại Từ; Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hải Chiều.

Gia đình ông Nguyễn Văn H có tài sản là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 27 tờ bản đồ số 04 có diện tích: 271,5 m2 địa chỉ: Thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, Hện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số W 073365 vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: W 00677 QSDĐ/QĐ796 QĐ-CT(H) do UBND Hện Lục Nam cấp ngày 30/7/2003. Quyền sử dụng đất hộ ông Nguyễn Văn H có mặt tiếp giáp như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295; Phía tây giáp đất nhà ông; Phía Nam giáp đường vào làng Đại Từ. Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hải Chiều.

Do hai gia đình có đất tiếp giáp với nhau nên đã cùng thống nhất đổi đất thuận tiện cho việc sinh hoạt, việc đổi đất là đổi hoà không ai phải thanh toán bất cứ khoản tiền nào. Ngày 04/02/2017, hai gia đình đã thống nhất lập thoả thuận trao đổi đất. Theo đó, gia đình ông đã đổi lấy phần diện tích đất có vị trí và kích thước như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295 chiều dài 10,14 m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất chiều dài 6,3 m; Phía Nam giáp đất nhà ông Nguyễn Văn H chiều dài 26,13 m; Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hải Chiều chiều dài 24,07 m.

Gia đình ông Nguyễn Văn H đã lấy phần diện tích đất có vị trí và kích thước như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295 chiều dài 13,7m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất chiều dài 7m; Phía Nam giáp đường vào thôn Đại Từ chiều 30,1 m; Phía Bắc giáp đất nhà ông chiều dài 26,13 m.

Sau khi hai gia đình hoàn thành việc đổi quyền sử dụng đất năm 2017 đã tiến hành xây dựng các C trình xây dựng trên các phần đất này và đang sử dụng đến nay. Từ năm 2017 đến nay ông nhiều lần đề nghị ông Nguyễn Văn H thực hiện thủ tục để cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hai gia đình tuy nhiên đến nay vẫn chưa thể thực hiện được. Vì vậy ông làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa gia đình ông và gia đình ông Nguyễn Văn H ngày 04/02/2017 là hợp pháp. Tại phiên tòa ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không bổ sung gì.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông nhất trí với lời khai của ông Nguyễn Văn C, lý do ông bận nên không có thời gian làm thủ tục mà pháp luật quy định. Nay ông Nguyễn Văn C làm đơn khởi kiện đề nghị C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa gia đình ông và gia đình ông Nguyễn Văn C ngày 04/02/2017 là hợp pháp ông hoàn toàn đồng ý. Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên quan điểm trên.

Bà Nguyễn Thị Hằng là đồng bị đơn trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn H ý kiến của ông H cũng là ý kiến của bà, tại phiên tòa bà có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ L quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn C ý kiến của ông C cũng là ý kiến của bà, tại phiên tòa bà có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ L quan anh Nguyễn Văn C trình bày: Ngày 04/02/2017, bố mẹ anh là Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị T đã ký kết hợp đồng đổi quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hằng. Việc bố mẹ anh ký kết Hợp đồng trên anh có biết và hoàn toàn đồng ý với việc trao đổi nêu trên. Ngoài ra, đề nghị Toà án cho phép anh vắng mặt tại các buổi họp tiếp cận C khai chứng cứ, buổi hoà giải và phiên toà xét xử vụ án. Anh giữ nguyên các quan điểm đã trình bày tại bản tự khai này.

Chị Nguyễn Thị L trình bày. Ngày 04/02/2017, bố mẹ chị là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hằng đã ký kết hợp đồng đổi quyền sử dụng đất với Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị T. Việc bố mẹ chị ký kết Hợp đồng trên chị có biết và hoàn toàn đồng ý với việc trao đổi nêu trên.

Quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn H hoàn toàn là của bố mẹ chị là Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Hằng chị không có bất cứ đóng góp gì để hình thành tài sản này và các tài sản trên đất cũng đều là của bố mẹ chị. Do vậy, chị không có bất cứ quyền lợi gì L quan đến vụ án này. Chị đề nghị Toà án cho phép chị vắng mặt tại các buổi họp tiếp cận C khai chứng cứ, buổi hoà giải và phiên toà xét xử vụ án. Chị giữ nguyên các quan điểm đã trình bày tại bản tự khai này.

Anh Nguyễn Hồng Q trình bày. Ngày 04/02/2017, bố mẹ anh là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hằng đã ký kết hợp đồng đổi quyền sử dụng đất với Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị T. Việc bố mẹ anh ký kết Hợp đồng trên anh có biết và hoàn toàn đồng ý với việc trao đổi nêu trên.

Quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn H hoàn toàn là của bố mẹ anh là Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Hằng anh không có bất cứ đóng góp gì để hình thành tài sản này và các tài sản trên đất cũng đều là của bố mẹ anh. Do vậy, anh không có bất cứ quyền lợi gì L quan đến vụ án này.

Nay ông Nguyễn Văn C làm đơn khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hằng thì anh hoàn toàn đồng ý. Tại phiên tòa anh Q vẫn giữ nguyên quan điểm và không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ L quan chị Nguyễn Thị H là con dâu của ông C bà T là vợ của anh Nguyễn Văn C (anh C đã chết). Hiện nay chị H không có mặt tại địa phương Tòa án đã có C văn gửi Phòng Xuất nhập cảnh C an tỉnh Bắc Giang đã xác định chị H không xuất cảnh. Tòa án đã làm các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị H không cung cấp lời khai đưa ra ý kiến quan điểm của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa chị H vẫn vắng mặt lần 2 không lý do.

Tại biên bản xem xét thẩm định ngày 12/7/2024:

Qua xem xét tầm tại chỗ 2 thửa đất cụ thể hiện trạng các thửa đất như sau.

Thửa đất số 63 tờ bản đồ số 91 diện tích 210 mét vuông tại thôn đại từ xã Bảo Đại Hện Lục Nam tỉnh Bắc Giang mang tên hộ ông Nguyễn Văn C trên đất đã xây dựng nhà kiên cố 2 tầng. Xây dựng tường bao quanh trên bán mái tôn kim loại. Xây dựng các C trình hết phần diện tích đất.

Tại thửa đất diện tích 271,5m2 thuộc thửa đất số 27 tờ bản đồ số 4 tại thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, Hện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mang tên hộ ông Nguyễn Văn H trên đất đã xây dựng nhà xưởng C trình hết toàn bộ diện tích tích đất, nhà xưởng được lợp mái tôn kim loại. Kết quả đo đạc cụ thể 2 thửa đất. Như sơ đồ đo vẽ.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C vẫn giữ nguyên lời trình bày đề nghị Tòa án C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa gia đình ông và gia đình ông Nguyễn Văn H ngày 04/02/2017 là hợp pháp.

Ông Nguyễn Văn H bị đơn tại phiên tòa vẫn giữ nguyên ý kiến và không bổ sung gì thêm. Anh Q tại phiên tòa vẫn giữ nguyên ý kiến và không bổ sung gì thêm.

Bà Nguyễn Thị Hằng, bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan chấp hành nghiêm chỉnh thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, riêng chị H không chấp hành. Đề nghị HĐXX

Căn cứ điều 116; điều 117, điều 118, điều 119, điều 502 Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, điều 105, Điều 167, Điều 188 Luật đất đai 2014; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C. C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn C bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H bà Nguyễn Thị Hằng ngày 04/02/2017 có hiệu lực pháp luật.

Giao cho ông Nguyễn Văn C bà Nguyễn Thị T diện tích 197,3m2 đất ở có vị trí và kích thước như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295 có các cạnh 1 -2 chiều dài 10,09 m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất có các cạnh 9 -10 chiều dài 6,53 m; Phía Nam giáp đất nhà ông Nguyễn Văn H có các cạnh 2 -9 chiều dài 25,4 m; Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hải Chiều có các cạnh 10 - 11 chiều dài 1,50 m, có các cạnh 11- 13 chiều dài 14,87m, có các cạnh 1 -13 chiều dài 7,12m.

Giao cho ông Nguyễn Văn H bà Nguyễn Thị Hằng diện tích 290,1m2 đất có vị trí và kích thước như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295 có các cạnh 3 -2 chiều dài 13,99 m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất có các cạnh 7 - 8 chiều dài 1,38m, các cạnh 8 - 9 chiều dài 5,47 m; Phía bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Văn C có các cạnh 2 -9 chiều dài 25,4 m; Phía nam giáp đất đường bê tông có các cạnh 7 - 6 chiều dài 14,53 m, có các cạnh 6 - 5 chiều dài 6,11m, có các cạnh 5 - 4 chiều dài 6,44m, có các cạnh 3 - 4 chiều dài 2,15m. (có sơ đồ kèm theo)

- Về chi phí định giá tài sản: Ông Nguyễn Văn C chịu cả chi phí thẩm định đất theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn C thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí DSST. Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hằng phải chiu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Ngoài ra còn đề xuất quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn C khởi kiện ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hằng đề nghị Tòa án C nhận hợp đồng đổi quyền sử dụng đất ngày 04/02/2017 là hợp pháp. Bị đơn ông Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Hằng có địa chỉ ở tại thôn Đại Từ, xã Bảo Đài, LN, BG Do vậy Tòa án nhân dân Hện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đổng đổiquyền sử dụng đất”

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi nghĩa vụ L quan nhưng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan là bà Hằng, anh C, bà T, chị L có đơn xin vắng mặt, chị H triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc và cũng vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần 2 không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định:

Theo như đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn C, gia đình ông C bà T và gia đình ông H bà Hằng có đất tiếp giáp với nhau nên đã cùng thống nhất đổi đất thuận tiện cho việc sinh hoạt, việc đổi đất là đổi hoà không ai phải thanh toán bất cứ khoản tiền nào. Ngày 04/2/2017, hai gia đình đã thống nhất lập thoả thuận trao đổi đất. Theo đó, gia đình ông C đã đổi lấy phần diện tích đất có vị trí và kích thước như sau: Phía đông: giáp tỉnh lộ 295 chiều dài 10,14 m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất chiều dài 6,3 m; Phía Nam giáp đất nhà ông Nguyễn Văn H chiều dài 26,13 m; Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hải Chiều chiều dài 24,07 m. Gia đình ông Nguyễn Văn H đã lấy phần diện tích đất có vị trí và kích thước như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295 chiều dài 13,7m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất chiều dài 7m; Phía Nam giáp đường vào thôn Đại Từ chiều dài 30,1 m; Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Văn C chiều dài 26,13 m. Sau khi hai gia đình hoàn thành việc đổi quyền sử dụng đất nêu trên từ năm 2017 đã tiến hành xây dựng các C trình kiên cố trên các phần đất này và đang sử dụng đến nay. Từ năm 2017 đến nay ông nhiều lần đề nghị ông Nguyễn Văn H thực hiện thủ tục để cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hai gia đình tuy nhiên đến nay vẫn chưa thể thực hiện được.

Ông C làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án: C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa gia đình tôi và gia đình ông Nguyễn Văn H ngày 04/02/2017 là hợp pháp.

Ý kiến của ông H bà Hằng đồng ý với ý kiến của ông C lý do ông H bà Hằng bận nên không có thời gian làm thủ tục cấp lại GCNQSDĐ, ông H bà Hằng đề nghị C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa 2 gia đình ngày 04/02/2017 là hợp pháp.

Ý kiến bà Nguyễn Thị T là vợ của ông Nguyễn Văn C nhất trí với ý liến của ông C,

Ý kiến anh Nguyễn Văn C là con trai ông C bà T đồng ý với việc trao đổi đất và không có đề nghị gì.

Ý kiến anh Nguyễn Hồng Q, chị Nguyễn Thị L là con ông H bà Hằng đồng ý với việc trao đổi đất và không có đề nghị gì.

Anh Nguyễn Văn C là con trai bà T, ông C (đã chết). Anh C chết có 2 con trai là cháu Nguyễn Đ T, sinh năm 2014, Nguyễn T Đ, sinh năm 2011. HĐXX xác định cháu Đ và cháu T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh C. Anh C có vợ là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992, địa chỉ: Đông Thịnh, xã Tam Dị, Hện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (đã ly hôn) HĐXX xác định chị H là người giám hộ theo pháp luật của cháu T và cháu Đ, vì vậy chị H là người có quyền lợi nghĩa L quan. Qua xác minh với chính địa phương thì chị H không có mặt tại địa phương, Tòa án đã có C văn gửi Phòng Xuất nhập cảnh - C an tỉnh Bắc Giang và đã được Phòng Xuất nhập cảnh trả lời chị H không có thông tin xuất cảnh, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị H không đến Tòa án làm việc cũng không cung cấp lời khai để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. HĐXX thấy nội dung, hình thức của hợp đồng đổi đất ngày 04/2/2017 đúng các quy định của pháp luật, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan đều nhất trí với các nội dung của hợp đồng, nguyên đơn, bị đơn không đề nghị Tòa án định giá đất vì các bên đã đổi sang ngang, các bên đã xây dựng các C trình kiên cố như trong biên bản thẩm định ngày 12/7/2024 nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C “ Tuyên bố hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất” ngày 04/02/2017 là hợp pháp.

3. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền xem xét thẩm định tại chỗ 5.000.000đồng. ông C đồng ý chịu cả. Xác nhận ông C đã nộp đủ số tiền chi phí tố tụng.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C thuộc diện người cáo tuổi nên HĐXX quyết định miễn án phí DSST. Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hằng phải chịu án phí DSST 300.000đ.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điều 116; điều 117, điều 118, điều 119, điều 502 Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, điều 105, Điều 167, Điều 188 Luật đất đai 2014; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C. C nhận Hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H bà Nguyễn Thị Hằng ngày 04/02/2017 là hợp pháp.

Giao cho ông Nguyễn Văn C bà Nguyễn Thị T diện tích 197,3m2 đất ở có vị trí và kích thước như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295 có các cạnh 1 -2 chiều dài 10,09 m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất có các cạnh 9 -10 chiều dài 6,53 m; Phía Nam giáp đất nhà ông Nguyễn Văn H có các cạnh 2 -9 chiều dài 25,4 m; Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hải Chiều có các cạnh 10 - 11 chiều dài 1,50 m, có các cạnh 11- 13 chiều dài 14,87m, có các cạnh 1 -13 chiều dài 7,12m.

Giao cho ông Nguyễn Văn H bà Nguyễn Thị Hằng diện tích 290,1m2 đất có vị trí và kích thước như sau: Phía đông giáp tỉnh lộ 295 có các cạnh 3 -2 chiều dài 13,99 m; Phía tây giáp đất nhà bà Nguyễn Thị Chất có các cạnh 7 - 8 chiều dài 1,38m, các cạnh 8 - 9 chiều dài 5,47 m; Phía bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Văn C có các cạnh 2 - 9 chiều dài 25,4m; Phía nam giáp đất đường bê tông có các cạnh 7 - 6 chiều dài 14,53 m, có các cạnh 6 - 5 chiều dài 6,11m, có các cạnh 5 - 4 chiều dài 6,44m, có các cạnh 3 - 4 chiều dài 2,15m. (có sơ đồ kèm theo)

2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn C chịu cả chi phí xem xét thẩm thẩm định tại chỗ 5.000.000đ. Ông Co đã nộp đủ.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí DSST. Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hằng phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Nguyễn Văn C bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H bà Nguyễn Thị Hằng được thực hiện quyền đăng ký biến động tại C quan Nhà nước có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ