- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì đựng trong phong bì niêm phong số 29MT/PC09.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HS-ST Ngày 28-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Hoàng Đắc Hân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên là điểm cầu trung tâm và tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng là điểm cầu thành phần, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T1, xã T2, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Vũ Thị H; có vợ là Mạc Thị H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 203/2013/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt Nguyễn Văn Đ 42 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” (đã được xóa án tích); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 01 tháng 12 năm 2022, chuyển tạm giam từ ngày 09 tháng 12 năm 2022 đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn N, ông Nguyễn Văn K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại bến phà thôn S, thuộc xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng, Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1-Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy-Công an huyện Thủy Nguyên và Công an xã A, huyện T đã bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ tại túi áo khoác bên phải Nguyễn Văn Đ đang mặc có 05 túi nilon trong đó 04 túi nilon màu trắng viền xanh và 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, kích thước 2x2cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy); tạm giữ của Đ 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 16L7-7757. Tổ công tác đã đưa Đ cùng vật chứng về trụ sở Công an xã A làm việc.
Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Nguyễn Văn Đ không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại bản Kết luận giám định số 29/KL-KTHS (MT) ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng có trong 05 túi nilon thu giữ của Đ là ma túy, có khối lượng 0,57 gam, là loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai: Do bản thân nghiện ma túy Heroine nên Đ thường xuyên mua ma túy về sử dụng. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01 tháng 12 năm 2022, Đ một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 16L7-7577 đến khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người phụ nữ không quen biết 400.000 đồng được 05 túi ma túy Heroine. Mua được ma túy, Đ cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi điều khiển xe về nhà tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực thôn S, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi cất giấu trái phép 0,57 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai và mong Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Số tiền bị cáo dùng để mua ma túy là do bị cáo lao động mà có. Một xe máy biển kiểm soát 16L7-7577 Công an thu giữ bị cáo mua của một người nam giới không quen biết ở nội thành Hải Phòng từ tháng 3 năm 2022 giá 3.000.000 đồng, hiện tại bị cáo không có giấy đăng ký xe và giấy tờ về việc mua bán xe để giao nộp cho Tòa án.
Tại Cáo trạng số 58/CT-VKSTN ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị tạm giữ 01 tháng 12 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao bì; Giao lại cho Công an huyện Thủy Nguyên một xe máy biển kiểm soát 16L7-7577 để điều tra làm rõ xử lý sau. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người chứng kiến ông Trần Văn N, ông Nguyễn Văn K, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định số 29/KL-KTHS (MT) ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại bến phà thôn S, thuộc xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 0,57 gam Heroine trong túi áo khoác bên phải đang mặc mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính Phủ thì Heroine là chất ma túy thuộc danh mục I, STT 09, danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành. Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi cất giấu 0,57 gam ma túy Heroine trái phép mục đích để sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố và đề nghị áp dụng đối với bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có một tiền án đã được xóa án tích nên bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ ma túy đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Lượng ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì được niêm phong trong một phong bì, dấu niêm phong số 29MT/PC09. Ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao bì không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với xe máy biển kiểm soát 16L7-7577, số khung RLHHC12088Y134698, số máy HC12E-0257209 chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên giao cho Công an huyện Thủy Nguyên để điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này không làm rõ được người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn Đ nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Văn Đ tính từ ngày 01 tháng 12 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì đựng trong phong bì niêm phong số 29MT/PC09. Giao 01 xe máy biển kiểm soát 16L7-7577, số khung RLHHC12088Y134698, số máy HC12E-0257209 cho Công an huyện Thủy Nguyên để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 3 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên
Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 135; khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng; - Viện KSND TP. Hải Phòng; - Viện KSND huyện Thủy Nguyên; - Cơ quan CSĐTCAH Thủy Nguyên; - Trại tạm giam Công an TPHP; - Phòng PV 06 CATP; Phòng PC 10 CATP; - Sở Tư pháp HP; Bị cáo; - Chi cục THADSH Thủy Nguyên; - Lưu: VT, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Minh Huế |