- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vương Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HS-ST Ngày: 11-5-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đặng Minh Lý;
- Ông Huỳnh Tấn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vƣơng Đức T, sinh năm 1991; tại Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 1, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Bá T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 26/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 116/2021/HS-ST.
Nhân thân:
- Ngày 06/8/2017, bị Công an phường Bình Nhâm, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 82/QĐ-XPVPHC;
- Ngày 28/9/2017, bị Công an thành phố Thuận An tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính số tiền 900.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
- Ngày 04/7/2019, bị Công an phường Hưng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 62/QĐ-XPHC;
- Ngày 09/6/2020 bị Ủy ban nhân dân phường Bình Nhâm, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 03 tháng, theo Quyết định số 206/QĐ-UBND.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2023 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: Số 3 đường N, khu phố 4, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961; địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 1, đường N, khu phố 1, phường 6, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt;
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đình P, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vương Đức T là đối tượng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, sinh sống lang thang nhiều nơi trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/01/2023, T điều khiển xe mô tô hiệu Skyway, màu nâu, biển số 52U3-9885 chạy trên các con hẻm thuộc phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tìm tài sản để trộm cắp. Khi đang lưu thông trên đường hẻm 1080 thuộc phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, T thấy tại bãi đất trống chứa phế liệu nhưng không có người trông coi nên nảy sinh ý định đi vào bên trong tìm tài sản lấy trộm. Tiếp đó, T dựng xe cạnh hàng rào bãi phế liệu và dùng tay mở hàng rào B40 để chui vào bên trong. Khi vào bên trong, T nhìn thấy 01 chiếc tivi nhãn hiệu TOSHIBA, màu đen, kích thước (70cm x 90cm) nên T dùng hai tay lôi chiếc tivi ra chỗ hàng rào nhưng chưa kịp mang ra bên ngoài thì bị anh Nguyễn Đức Hòa là chủ bãi phế liệu phát hiện, truy hô và cùng người dân gần đó bắt giữ T bàn giao cho Công an phường Phú Thọ để lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng, gồm: 01 xe mô tô hiệu Skyway, màu nâu, biển số 52U3-9885; 01 chiếc tivi nhãn hiệu TOSHIBA, màu đen, kích thước (70cm x 90cm). Cùng ngày 10/01/2023, Công an phường Phú Thọ đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc và đối tượng T cùng với số vật chứng đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để xử lý theo thẩm quyền.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 102/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận: 01 (một) tivi nhãn hiệu TOSHIBA, màu đen, kích thước (70 cm x 90 cm), trị giá: 135.000 đồng (một trăm ba mươi lăm ngàn đồng).
Ngày 16/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả ti vi nêu trên cho anh Hòa, theo Quyết định xử lý vật chứng số 31 ngày 16/01/2023; hiện anh Hòa không có yêu cầu gì khác đối với T.
Đối với xe mô tô hiệu Skyway, màu nâu, biển số 52U3-9885, quá trình điều tra xác minh xe mô tô nêu trên do anh Nguyễn Thanh P đứng tên chủ sở hữu. Khoảng tháng 10/2019, bà Nguyễn Thị N (là mẹ ruột của T) mua lại của anh P nhưng chưa làm thủ tục mua bán sang tên theo quy định. Sau đó bà N cho T mượn xe làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội bà N không biết. Vì vậy, ngày 25/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả xe cho bà N, theo Quyết định xử lý vật chứng số 43 ngày 25/02/2023; hiện bà N không có yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số 67/CT-VKSTDM ngày 24/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vương Đức T về tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Đức T mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Về vật chứng: Không có.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại, người chứng kiến, nội dung bản cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 10/01/2023, tại bãi đất trống chứa phế liệu, địa chỉ: Hẻm 1080, khu phố 4, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, bị cáo Vương Đức T là người đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 tivi nhãn hiệu TOSHIBA màu đen, trị giá 135.000 đồng của anh Nguyễn Đức H và chị Nguyễn Thị T thì bị phát hiện và bắt quả tang. Nên hành vi mà bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma tuý. Vì vậy, cần xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi và giao trả cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng của vụ án: Không.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Vương Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vương Đức T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2023.
2. Về án phí: Buộc bị cáo Vương Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Sinh |