vanban.org

Bản án 65/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 13/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Điểu Lê Trường G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/HS-ST
Ngày: 13/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Phụng

Bà Phan Thị Ngọc Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ– Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Võ Tới- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Điểu Lê Trường G, sinh ngày 29/7/2000, tại Bình Phước; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Nơi thường trú: Tổ 4, ấp Phú Miêng, xã Tân lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: S’Tiêng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Tới, sinh năm 1979 (chết) và bà Điểu Thị Thùy Mỹ, sinh năm: 1981. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Về nhân thân: Vào năm 2020 bị Công an xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định xử phạt hành chính số 52 ngày 21/8/2020)

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/3/2023 đến ngày 17/03/2023 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Triệu Đình T, sinh năm1973 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Cần Dực, xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 ngày 09/3/2023, khi Điểu Lê Trường G, đang ngồi chơi tại nhà Ấu (không rõ thân nhân, lai lịch) gần chùa Phú Lạc thuộc thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước thì có một người bạn tên thường gọi là Nhóc (không rõ thân nhân, lai lịch) điều khiển xe mô tô loại Sirius màu trắng đen, không nhớ biển số đến và rủ Giang qua Campuchia chơi. Giang đồng ý. Nhóc điều khiển xe mô tô chở Giang đến khu vực bờ sông giáp biên giới giữa Việt Nam - Campuchia. Giang xuống xe đi bộ qua sông vào lãnh thổ Campuchia, còn Nhóc điều khiển xe mô tô qua sông, khi cả hai đi vào lãnh thổ Campuchia Nhóc tiếp tục chở Giang đến nhà một người quen của Nhóc, đến nơi Giang ngồi ở bên ngoài còn Nhóc đi vào trong nhà, khoảng hơn 15 phút thì Nhóc quay ra và đưa cho Giang 01 bịch nylon màu trắng bên trong chứa ma túy đá và Nhóc nói với Giang đem bịch ma túy này về để dành sử dụng. Giang cầm bịch nylon chứa má túy đá bỏ vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người. Sau đó, Nhóc điều khiển xe mô tô chở Giang và một người thanh niên bạn của Nhóc (không rõ nhân thân, lai lịch) quay lại bờ sông giáp biên giới giữa Camphuchia - Việt Nam. Khi đến nơi người thanh niên bạn của Nhóc qua sông trước vào lãnh thổi Việt Nam, sau đó người thanh niên gọi Giang và Nhóc qua. Giang đi bộ qua sông trước, khi đi được một đoạn đến bụi tre gần đầu lô cao su, thuộc ấp Cần Dực, xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh thì Giang bị lực lượng Bộ đội Biên phòng kết hợp với Công an huyện Lộc Ninh và Công an xã Lộc Thành tuần tra phát hiện nên Giang bỏ chạy dọc theo bờ ông được một đoạn khoảng 100 mét Giang lấy bịch nylon chứa ma túy đá trong túi áo khoác bên trái ném xuống đất tiếp tục bỏ chạy được một đoạn nũa thì bị Bộ đội Biên phòng kết hợp với Công an huyện Lộc Ninh và Công an xã Lộc Thành bắt được Giang, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 01(một) bịch nylon miệng kéo dính kích thước (13x9,4)cm bên trong chứa ma túy, được niêm phong (ký hiệu M1).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, không lên nguồn; 01(một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh không có sim, không lên nguồn, 01 (một) tờ tiền polime 20.000 đồng (hai mươi ngàn đồng), 02 (hai) tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng (mười ngàn đồng), 01 (một) tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng (năm ngàn đồng), tổng số tiền thu giữ là 45.000 đồng (Bốn mươi lăm ngàn đồng), 01 áo khoác màu đen – xanh – xám có chữ N-MEN.Niêm phong vật chứng và đưa đi giám định.

Căn cứ kết luận giám định số 313/KL-KTHS ngày 11/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 98,4542 gam.

Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKS, ngày 03/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố Điểu Lê Trường G về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Điểu Lê Trường G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Điểu Lê Trường G từ 11 đến 12 năm tù.

Bị cáo không tranh luận và không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở khách quan để kết luận:

Ngày 09/3/2023, Giang cùng với một người tên là Nhóc đi từ Việt Nam sang Campuchia, bằng xe mô tô do Nhóc điều khiển. Sau khi Nhóc lấy được ma túy ở nhà một người dân Camphuchia đưa cho Giang cất giữ đem về Việt Nam sử dụng. khi Nhóc và Giang trên đường về việc Nam đến khoảng 18 giờ cùng ngày khi Giang đã qua sông vào lãnh thổ Việt Nam thuộc ấp Cần Dực, xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, khi nhìn thấy Bộ đội biên phòng tuần tra, Giang bỏ chạy dọc theo bờ sông và trong khi chạy đã vứt bỏ số ma túy đang cất giấu qua giám định có khối lượng 98,4542 gam ma túy loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Giang khai nhận số ma túy mà Giang cất giấu là của người tên Nhóc đưa cho Giang đem về Việt nam mục đích là để sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác.

Đối với người tên Nhóc, quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch và chưa làm việc được nên chưa có căn cứ xử lý.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước chỉ truy tố bị cáo Điểu Lê Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, hành vi sử dụng ma túy là một trong những tệ nạn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân bị cáo, tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội, bị cáo biết rõ việc sử dụng chất ma túy bị pháp luật cấm, người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nhưng vì bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, nên khi Nhóc đưa ma túy bị cáo nhận và cất giấu đang trên đường đưa về Việt Nam thì bị phát hiện, số ma túy bị cáo tàng trữ có khối lượng 98,4542 gam ma túy loại Methamphetamine, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Tại thời điểm phạm tội và trong phiên tòa, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Xét về nhân thân: Tuy bị cáo chưa có tiền án, nhưng Bị cáo là người sử dụng ma túy, năm 2020 đã bị Công an xã Tân Lợi xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo không có công việc cụ thể và đối tượng sống lang thang còn vi phạm quy chế biên giới do vậy cần có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho xã hội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức về páp luật có phần hạn chế nên được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như trong bản luận tội là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử .

Về vật chứng vụ án:

Số ma túy sau khi giám địch còn lại đựng trong 01 bịch nylon miệng kéo dính kích thước (13x9,4)cm bên trong chứa ma túy niêm phong ký hiệu M1; 01 áo khoác màu đen – xanh – xám có chữ N-MEN là vật chứng liên quan đến vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, không lên nguồn; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh không có sim, không lên nguồn và số tiền 45.000 đồng (Bốn mươi lăm ngàn đồng) là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Điểu Lê Trường Giang phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Điểu Lê Trường Giang 11 (mười một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 09/3/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về vật chứngvụ án:

Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bịch nylon miệng kéo dính kích thước (13x9,4)cm bên trong chứa ma túy niêm phong ký hiệu M1. 01 áo khoác màu đen – xanh – xám có chữ N-MEN.

Trả lại cho bị cáo Điểu Lê Trường G 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, không lên nguồn; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh không có sim, không lên nguồn và số tiền 45.000 đồng (Bốn mươi lăm ngàn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0007012 ngày 12/9/2023 của Chi cục thi hành án huyện Lộc Ninh và lệnh thanh toán ngày 12/9/2023)

4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa áùn.

Bị cáo Điểu Lê Trường Giang phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ