vanban.org

Bản án 65/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Anh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Anh S 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/12/2022. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lâm Anh S phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Anh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/HS-ST
Ngày: 19-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Nhẫn

2/ Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Anh S, sinh năm 1995; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT: Thôn Tân Hòa, xã T Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 9/12; họ và tên cha: Lâm Văn Niên, sinh năm 1971; họ và tên mẹ: Võ Thị Đông, sinh năm 1970; anh chị em ruột: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2000; vợ, con: chưa có; Tiền sự: không; Tiền án: Bản án số 128/2020/HS-ST ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong vào ngày 08/8/2021, bị cáo chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Quyết định đình chỉ vụ án số 01/QĐ-VKS ngày 12/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ về hành vi “Hiếp dâm và chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ chờ xử lý. Có mặt

* Bị hại:

- Ông Đỗ Ngọc S, sinh năm 1993

Trú tại: Tổ đình Linh Quang, thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn D, sinh năm 1976

Trú tại: Thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Trần Thái L, sinh năm 1983

Trú tại: Thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Trần Quốc V, sinh năm 1984

Trú tại: Thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Luyện Quang T, sinh năm 1962

Trú tại: Thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Huỳnh Ngọc Minh Kh, sinh năm 1987

Trú tại: Thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 03/11/2022, Lâm Anh S đi ngang qua cơ sở xoa bóp bấm huyệt cổ truyền tại Quốc lộ 20, thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ thì nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excenter BKS 75H1 – 218.69 của ông Đỗ Ngọc S (sinh năm: 1993, HKTT: Phú Đa, Phú Vang, Thừa Thiên Huế, tạm trú tại: thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) dựng ở trong sân có cắm sẵn chìa khóa. S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này, nên S chạy xe mô tô của mình đến gửi nhờ ở nhà người dân gần đó. Sau đó, S đi bộ vào trong sân của cơ sở xoa bóp, bấm huyệt cổ truyền và dắt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excenter BKS 75H1 – 218.69 của ông S ra phía Quốc lộ 20 hướng về Đà Lạt để tẩu thoát thì bị người dân gần đó phát hiện giữ lại. Lúc bị người dân giữ lại và chất vấn, S đưa ra 01 căn cước công dân mang tên Lâm Anh S. Sau đó, S lợi dụng sự sơ hở của người dân, S nhanh chóng bỏ chạy khỏi sự bắt giữ và bỏ trốn khỏi địa phương. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Lâm Anh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ Bản kết luận số 121/KL – HĐĐG ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá trong TTHS huyện Đ xác định: Giá trị tài sản của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excenter BKS 75H1 – 218.69 bị chiếm đoạt có giá 7.890.000đ (bảy triệu tám trăm chín mươi ngàn đồng).

Vật chứng thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Công an huyện Đ đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excenter biển số 75H1 – 218.69 cùng các giấy tờ liên quan chứng minh chủ sở hữu của ông Đỗ Ngọc S. Sau khi tiến hành định giá tài sản Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là ông S, ông S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về mặt dân sự nên không đề cập đến.

Tại bản cáo trạng số 59/CT - VKS ngày 14 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lâm Anh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Lâm Anh S về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lâm Anh S từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lâm Anh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 03/11/2022, bị cáo Lâm Anh S đi ngang qua cơ sở xoa bóp bấm huyệt cổ truyền tại Quốc lộ 20, thôn Phú An, xã Ph H, huyện Đ thì nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excenter BKS 75H1 – 218.69 của ông Đỗ Ngọc S dựng ở trong sân có cắm sẵn chìa khóa. Bị cáo S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này, nên S chạy xe mô tô của mình đến gửi nhờ ở nhà người dân gần đó. Sau đó đi bộ vào trong sân của cơ sở xoa bóp, bấm huyệt cổ truyền và dắt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excenter BKS 75H1 – 218.69 ra phía Quốc lộ 20 hướng về Đà Lạt để tẩu thoát thì bị người dân gần đó phát hiện giữ lại. Lúc bị người dân giữ lại và chất vấn thì bị cáo S đưa ra 01 căn cước công dân mang tên Lâm Anh S, sau đó lợi dụng sự sơ hở của người dân, S nhanh chóng bỏ chạy khỏi sự bắt giữ và bỏ trốn khỏi địa phương.

Căn cứ Bản kết luận số 121/KL – HĐĐG ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định: Giá trị tài sản của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excenter biển số 75H1 – 218.69 bị chiếm đoạt có giá 7.890.000đ (bảy triệu tám trăm chín mươi ngàn đồng).

Xét thấy, lời khai của bị cáo Lâm Anh S phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lâm Anh S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo bất chấp pháp luật vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Xem xét về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội khi đang có tiền án, cụ thể: Bản án số 128/2020/HS-ST ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong vào ngày 08/8/2021, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Đỗ Ngọc S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Công an huyện Đ đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu ông Đỗ Ngọc S 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excenter biển số 75H1 – 218.69 cùng các giấy tờ liên quan, ông S không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét.

Từ những phân tích nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Anh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Anh S 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/12/2022.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lâm Anh S phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ