- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy A - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HS-ST Ngày: 05-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Minh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Hiển.
2. Ông Lê Đức Lam.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mỹ Dung; Thư ký Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu, Kiểm sát viên.
Ngày 05/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2023/HSST ngày 06/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HS ngày 23/11/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy A; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1982 tại Nghệ An; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi tạm trú: thôn N, xã K, huyện Đ, Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Duy Đ (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1949. Hiện ở xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; A, chị, em ruột: Có 07 người, lớn sinh năm 1961, nhỏ sinh năm 1987. Bị cáo là con thứ 7 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1982 (đã ly hôn); Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Đ từ ngày 14/9/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Phan Văn N1; sinh năm 1986; Nơi cư trú: Số D Đ, tổ dân phố N, thị trấn T, Đ, Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Võ Văn P, sinh năm 1983; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Huỳnh L, sinh năm 1967; Hộ khẩu thường trú: Xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nơi ở hiện tại: Xóm E, thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
3. Ông Lý Khì M, sinh năm 1976; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 ngày 04/8/2022, trong lúc dự đám giỗ tại nhà của ông Võ Văn P ở thôn N, xã K, huyện Đ thì giữa Nguyễn Duy A và Phan Văn N1, sinh năm 1986 ở tổ dân phố N, thị trấn T, Đ xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại với nhau, N1 có lời nói xúc phạm A. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Võ Văn P rủ Nguyễn Duy A đến nhà của ông Nguyễn Huỳnh L (gần nhà P) hát Karaoke, khi đến trước cổng nhà ông L thì P vào trước còn A đúng bên ngoài chờ, lúc này Phan Văn N1 cũng đi đến gần nhà ông L. Thấy A đứng bên ngoài nên N1 nhặt 01 cục đá cầm ở tay phải để đánh A thì A lao vào dùng tay đánh trúng đầu của N1 làm cục đá rơi xuống đất, N1 cũng ngã xuống đất nên A dùng chân đạp 2 – 3 cái vào vùng bụng của N1 thì được mọi người can ngăn và chở N1 đi cấp cứu. Sau khi đánh N1 thì A bỏ đi khỏi địa phương, đến ngày 14/9/2023 Nguyễn Duy A đến công an huyện N, tỉnh Nghệ An đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Hậu quả: Nam bị gãy xương đòn phải, dập phổi phải, vỡ gan trái.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 551/2022-TgT ngày 11/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Phan Văn N1 là 42%, tổn thương do vật tù gây nên.
Cáo trạng số 62/CT-VKSĐD ngày 06/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố bị can Nguyễn Duy A về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.
Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận: khoảng 11 giờ 30 ngày 04/8/2022, trong lúc dự đám giỗ tại nhà của ông Võ Văn P thì giữa A và N1 xảy ra mâu thuẫn, do N1 có lời nói xúc phạm A. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày P rủ A đến nhà của ông L (gần nhà P) hát Karaoke, khi đến trước cổng nhà ông L thì P vào trước còn A đúng bên ngoài chờ, lúc này N1 cũng đi đến gần nhà ông L. Thấy A đứng bên ngoài nên N1 nhặt 01 cục đá cầm ở tay phải đánh A thì A lao vào dùng tay đánh trúng đầu của N1 làm cục đá rơi xuống đất, N1 ngã xuống đất dùng tay ôm chân A thì A dùng chân đạp 2 – 3 cái vào vùng bụng của N1 thì được mọi người can ngăn. Sau khi đánh N1 do sợ bị trả thù nên bị cáo bỏ đi khỏi địa phương xuống Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, đến ngày 14/9/2023 bị cáo đến công an huyện N, tỉnh Nghệ An đầu thú.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có điều kiện nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Vào ngày 04/8/2022, tại thôn N, xã K, huyện Đ, Nguyễn Duy A đã có hành vi dùng tay, chân đánh gây thương tích cho Phan Văn N1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 42% là vi phạm pháp luật.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi dùng tay, chân đánh gây thương tích cho Phan Văn N1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 42% nêu trên của Nguyễn Duy A đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo biết việc dùng tay, chân đánh và đạp vào bụng vào người khác là hành vi nguy hiểm. Xét tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo vì bực tức do bị hại có lời lẽ xúc phạm, khi thấy bị hại cầm đá ném thì bị cáo xông vào dùng tay đánh và dùng chân đạp vào bụng bị hại gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật 42% là thương tích nặng. Hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác, đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi là có hành vi khiêu khích trước và dùng đá ném bị cáo.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có công cách mạng (Có bố mẹ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì) nên được áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo.
Về quyết định hình phạt: Bị cáo vì bực tức do bị hại có lời lẽ xúc phạm, khi thấy bị hại cầm đá thì bị cáo xông vào dùng tay đánh và dùng chân đạp vào bụng bị hại là hành vi nguy hiểm. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, giao bị cáo về cho chính quyền địa phương theo dõi, giáo dục cũng đảm bảo đấu tranh và phòng ngừa chung.
Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không thu giữ, tạm giữ tài liệu, vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, Nguyễn Duy A đã bồi thường 100.000.000đ chi phí điều trị thương tích cho bị hại, sau khi nhận tiền bồi thường bị hại Phan Văn N1 không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Duy A cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Duy A phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đơn Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Công an huyện Đơn Dương; - Thi hành án HS, DS huyện Đơn Dương; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu HS; THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Minh Dũng |