- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tân T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG ––––––––––––––– Bản án số: 65/2023/HS-ST Ngày : 01 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Văn Cẩu;
2. Ông Liêu Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Tân T, sinh năm 1996, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; con ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1977 và bà Cổ Thị T1, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ con.
+ Tiền án, tiền sự: không;
+ Nhân thân: từ nhỏ sống chung với gia đình tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; học đến lớp 9 thì nghỉ, sống bằng nghề làm thuê.
+ Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/8/2023 đến nay và có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Ngân hàng Thương mại cổ phần C (V)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1986, chức vụ: Trưởng phòng giao dịch; Nơi cư trú: số F, đường L, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1977; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Người làm chứng: bà Võ Thị Ánh H1, sinh năm 1965; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 18/6/2023, sau khi uống rượu, Nguyễn Tân T điều khiển xe mô tô biển số: 67C1 - 830.63 đến trụ máy ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần C (V) trong khu công nghiệp B thuộc ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang để rút tiền. T sử dụng thẻ ATM mở tại ngân hàng Q (M) để rút tiền, nhưng do nhập sai mã pin nhiều lần nên hệ thống máy ATM của ngân hàng nuốt thẻ của T vào máy. Lúc này, T dùng tay phải đấm 02 cái vào màn hình máy ATM làm hư hỏng kính bảo vệ màn hình và màn hình máy ATM (LCD 15”) rồi chạy xe về nhà ngủ. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/6/2023, Võ Thị Ánh H1 là nhân viên tạp vụ của Phòng giao dịch Ngân hàng V đến quét dọn, vệ sinh nơi đặt máy ATM thì phát hiện kính bảo vệ màn hình và màn hình của máy ATM bị hư hỏng nên H1 điện thoại báo cho Nguyễn Hồng H hiện là Trưởng Phòng G - Ngân hàng thương mại cổ phần C - Chi nhánh A đến kiểm tra và trình báo vụ việc cho Công an xã B.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 áo thun tay ngắn, phần thân áo màu xanh đậm, phần cổ áo màu trắng, phần tay áo có màu xanh - đỏ - trắng, trên ngực áo phía bên trái có logo màu trắng, đã qua sử dụng; 01 quần ngắn, màu đen, phía trong lưng quần có tem có dòng chữ “EMPIRA”, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, có nhiều họa tiết màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, trên quai dép có hai sọc màu trắng và có dòng chữ “GAMBOY”, đã qua sử dụng;
- Xe mô tô biển số: 67C1 - 830.63, nhãn hiệu: HONDA, số loại: FUTURE FI, màu sơn: Trắng - Đen, số máy: JC90E0221804, số khung: RLHJC7653MY115917, đã qua sử dụng (đã trả cho bị can Nguyễn Tân T);
- 01 thẻ ATM Ngân hàng Q (M), số thẻ: 9704 2293 1213 5747, tên chủ thẻ: NGUYEN TAN TIEN, đã qua sử dụng;
* Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL.HĐ ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang, kết luận: Một kính bảo vệ màn hình và màn hình máy ATM (LCD 15’’) P77, số serial number: 42884069, màn hình đã qua sử dụng, bị hư hỏng hoàn toàn, có giá trị thiệt hại là 21.010.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 21.010.000 đồng.
* Căn cứ Kết luận giám định số 415/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 17/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:
Trích xuất 27 (hai mươi bảy) ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C gửi giám định chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo (Phụ lục gồm 12 trang A4).
Ngày 24/8/2023, Nguyễn Tân T bị khởi tố để điều tra.
Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSCT-HS ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Tân Tiến về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo T thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.
- Đại diện theo ủy quyền của bị hại ông Nguyễn Hồng H trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu, Ngân hàng Thương mại cổ phần C (V) đã nhận số tiền 21.010.000 đồng do bị cáo và gia đình của bị cáo bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và yêu cầu xử lý T đúng theo quy định pháp luật, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá L trình bày: ông là cha ruột của bị cáo T. Sau khi biết T đã có hành vi đập phá làm hư hỏng kính bảo vệ và màn hình máy ATM của Ngân hàng V thì ông đã cùng T đến Ngân hàng xin lỗi và bồi thường thiệt hại giá trị tài sản hư hỏng là 21.010.000 đồng. Đây là số tiền của T đi làm đưa lại cho ông và bà T1 cất giữ dùm T.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi,
bổ sung năm 2017: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tân T từ 09 (chín) tháng
đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử
thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, về tội
“Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
- Biện pháp tư pháp:
+ Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận số tiền 21.010.000 đồng do gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên đề nghị không đặt ra xem xét.
+ Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy: 01 áo thun tay ngắn, phần thân áo màu xanh đậm, phần cổ áo màu trắng, phần tay áo có màu xanh - đỏ - trắng, trên ngực áo phía bên trái có logo màu trắng, đã qua sử dụng; 01 quần ngắn, màu đen, phía trong lưng quần có tem có dòng chữ “EMPIRA”, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, có nhiều họa tiết màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, trên quai dép có hai sọc màu trắng và có dòng chữ “GAMBOY”, đã qua sử dụng; 01 thẻ ATM Ngân hàng Q (M), số thẻ: 9704 2293 1213 5747, tên chủ thẻ: NGUYEN TAN TIEN, đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng:
Người làm chứng: bà Võ Thị Ánh H1, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, bà H1 đã trình bày rõ lời khai của bà tại giai đoạn điều tra nên việc vắng mặt của bà tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với nội dung diễn biến của vụ án; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; bản ảnh hiện trường, bản ảnh tang vật; Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL.HĐ ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C; Biên bản và bản ảnh xem xét dấu vết trên thân thể; trích thông tin dữ liệu trong hệ thống máy ATM; Kết luận giám định số 415/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 17/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Có đầy đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Tân T đã có hành vi dùng tay phải đấm 02 cái vào máy ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần C (V) tại khu Công nghiệp B, làm hư hỏng kính bảo vệ màn hình và màn hình ATM (LCD 15’’). Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 21.010.000 đồng.
Căn cứ vào quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo Nguyễn Tân T đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Tân T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lẽ ra sau khi bị cáo nhập sai mã pin nhiều lần bị máy ATM nuốt thẻ thì bị cáo phải liên hệ số điện thoại của nhân viên Ngân hàng V niêm yết gần phòng máy ATM hoặc đi đến Ngân hàng V gần nhất để được hướng dẫn nhận lại thẻ, nhưng không làm được điều đó bị cáo lại tức giận với lý do bị nuốt thẻ, không rút được tiền nên bị cáo đã đập vào máy ATM làm hư hỏng kính bảo vệ màn hình và màn hình ATM (LCD 15’’), gây thiệt hại về tài sản cho Ngân hàng V với giá trị thiệt hại được định giá là 21.010.000 đồng.
Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của Ngân hàng V được pháp luật bảo vệ, bị cáo thấy trước hậu quả có thể xảy ra nhưng vẫn để mặc cho hậu quả xảy ra bằng hành động bỏ đi sau khi đập phá. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Ngân hàng V, đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hành vi của bị cáo có tính chất bộc phát nhất thời, trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo đã chấp hành tốt các chính sách pháp luật và quy định tại địa phương; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhận thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Từ đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn, làm thuê kiếm sống, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về các biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền 21.010.000 đồng do bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ được nhiều vật chứng trong đó có:
+ Xe mô tô biển số: 67C1 - 830.63, nhãn hiệu: HONDA, số loại: FUTURE FI, màu sơn: Trắng - Đen, số máy: JC90E0221804, số khung: RLHJC7653MY115917, đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho bị cáo T theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 16/10/2023 là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với: 01 áo thun tay ngắn, phần thân áo màu xanh đậm, phần cổ áo màu trắng, phần tay áo có màu xanh - đỏ - trắng, trên ngực áo phía bên trái có logo màu trắng, đã qua sử dụng; 01 quần ngắn, màu đen, phía trong lưng quần có tem có dòng chữ “EMPIRA”, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, có nhiều họa tiết màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, trên quai dép có hai sọc màu trắng và có dòng chữ “GAMBOY”, đã qua sử dụng; 01 thẻ ATM Ngân hàng Q (M), số thẻ: 9704 2293 1213 5747, tên chủ thẻ: NGUYEN TAN TIEN, đã qua sử dụng; Tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại, xét thấy các tài sản này không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu, tiêu hủy.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 53/QĐ-VKSCT-HS ngày 09/11/2023).
Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Tân T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 được sửa đổi, bổ sung năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tân T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tân T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, kể từ ngày tuyên án (01/12/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Tân T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: không.
2. Về các biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu, tiêu hủy: 01 áo thun tay ngắn, phần thân áo màu xanh đậm, phần cổ áo màu trắng, phần tay áo có màu xanh - đỏ - trắng, trên ngực áo phía bên trái có logo màu trắng, đã qua sử dụng; 01 quần ngắn, màu đen, phía trong lưng quần có tem có dòng chữ “EMPIRA”, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, có nhiều họa tiết màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, trên quai dép có hai sọc màu trắng và có dòng chữ “GAMBOY”, đã qua sử dụng; 01 thẻ ATM Ngân hàng Q (M), số thẻ: 9704 2293 1213 5747, tên chủ thẻ: NGUYEN TAN TIEN, đã qua sử dụng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 53/QĐ-VKSCT-HS ngày 09/11/2023).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Tân T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thành; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Ủy ban nhân dân xã An Hòa, huyện Châu Thành (thay thông báo); - Phòng KTNVTHA; - PV 06; - Sở Tư pháp; - Văn phòng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Quyên |