vanban.org

Bản án 65/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Về con chung: Giao con chung Đỗ Nguyễn Thiên P, sinh ngày 22/02/2014 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. [3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kiều O"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LA GI
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 12 -2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quang

Bà Phan Thị Bích

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Đan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30/10/2023, về: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30/11/2023/QĐST-HNGĐ giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1994(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 3, xã Sơn Mỹ, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận

Bị đơn: Ông Đỗ Quốc H, sinh năm 1995(Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 5, phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Quốc H đăng ký kết hôn tại UBND phường Phước Lộc, thị xã La Gi năm 2014. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cải nhau, mâu thuẫn vợ chồng dần dần trở nên trầm trọng, hiện nay ông bà đã ly thân mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau. Nay bà không còn tình cảm với ông H nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Đỗ Nguyễn Thiên P, sinh ngày 22/02/2014. Bà O có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Đỗ Quốc H trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Oanh về thời điểm kết hôn, con chung và mẫu thuẫn vợ chồng. Ông cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà O. Ông không yêu cầu Tòa giải quyết tài sản chung, nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là phù hợp quy định pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng phiên tòa sơ thẩm; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn ông Đỗ Quốc H. Về con chung: Bà O trực tiếp nuôi con Đỗ Nguyễn Thiên P, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Bà O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Bà Nguyễn Thị Kiều O khởi kiện ông Đỗ Quốc H về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Bị đơn ông H có nơi cư trú tại phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Nguyên đơn bà O có đơn xin vắng mặt và bị đơn ông H cũng có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung là phù hợp quy định của Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà O yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H và có nguyện vọng trực tiếp nuôi con Đỗ Nguyễn Thiên P và không yêu cầu ông Huy cấp dưỡng nuôi con.

Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa bà O và ông H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại UBND phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống giai đoạn đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vả lẫn nhau, hiện nay mạnh ai nấy sống không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên việc vợ chồng hàn gắn là rất khó. Ngoài ra, bản thân ông H có ý kiến là đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà o, điều này chứng tỏ ông H không có thiện chí giữ gìn quan hệ hôn nhân, cũng như giữa ông, bà không có giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những căn cứ trên, nhận thấy mâu thuẫn giữa ông H và bà Ođã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Oly hôn ông H là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Giao con chung là Đỗ Nguyễn Thiên P, sinh ngày 22/02/2014 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Về tài sản chung, nợ chung: Bà O không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án .

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn ông Đỗ Quốc H.

[2] Về con chung: Giao con chung Đỗ Nguyễn Thiên P, sinh ngày 22/02/2014 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0016804 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi. Bà O đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ