vanban.org

Bản án 65/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đỗ Cao Trường H.

Về con chung: Giao 02 cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Giao 02 cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012 và cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017 cho anh Đỗ Cao Trường H trực tiếp nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đỗ Cao Trường H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-5-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trƣờng Phát.

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Lƣơng Khoa.

2. Bà Trần Thị Kim Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phƣơng Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.

Vào ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Đỗ Cao Trường H, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai bổ sung, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Trên sơ sở tự nguyện, chị và anh Đỗ Cao Trường H tự sống chung và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng anh chị chung sống không có hạnh phúc. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, vợ chồng hay cãi vã và sống thiếu tôn trọng nhau. Chị và anh Đỗ Cao Trường H không còn sống chung từ tháng 7/2022, từ đó đến nay vợ chồng không thể hòa giải hàn gắn được tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể được khắc phục, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Cao Trường H.

Về con chung: Chị và anh Đỗ Cao Trường H có 04 người con chung là cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012, cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017, cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021, không yêu cầu anh Đỗ Cao Trường H cấp dưỡng nuôi con. Giao 02 con chung là cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012 và cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017 cho anh Đỗ Cao Trường H nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình làm việc và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Đỗ Cao Trường H vắng mặt nên không có lời trình bày.

- Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân nhân dân huyện X: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và sự chấp hành pháp luật của các đương sự cơ bản đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đỗ Cao Trường H; Về con chung, giao cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012 và cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017 cho anh Đỗ Cao Trường H trực tiếp nuôi dưỡng; Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H. Về tài sản chung và nợ chung, không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Đỗ Cao Trường H và yêu cầu nuôi dưỡng con chung, anh Đỗ Cao Trường H hiện đang cư trú tại Ấp F, xã X, huyện X nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc.

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Đỗ Cao Trường H nên chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn, anh Đỗ Cao Trường H là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đỗ Cao Trường H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo luật định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị Nguyễn Thị N cho rằng vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, vợ chồng hay cãi vã, sống thiếu tôn trọng nhau. Anh chị không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2021 đến nay. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Đỗ Cao Trường H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không có lời trình bày, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được để anh chị khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Qua xác minh, nhận thấy, chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H có đăng ký kết hôn và sống tại địa phương, tuy nhiên hiện nay chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H không còn chung sống với nhau và chị Nguyễn Thị N đang sống cùng với 02 con chung là cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021. Anh Đỗ Cao Trường H đang sống cùng với 02 con chung là cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012 và cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H đều vắng mặt, chứng tỏ anh chị không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đỗ Cao Trường H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H có 04 người con chung là cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012, cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017, cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021; Giao 02 con chung là cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012 và cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017 cho anh Đỗ Cao Trường H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Xét thấy, hiện nay 02 cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021 đang sống cùng chị Nguyễn Thị N, hai cháu còn nhỏ cần thiết có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ; Các cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012 và cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017 hiện đang sống cùng cha là anh Đỗ Cao Trường H. Do đó tiếp tục giao cháu Đỗ Hưng T1 và cháu Đỗ Bá H1 cho chị N nuôi dưỡng, giao 02 cháu Đỗ Phú T và cháu Đỗ Minh Q cho anh Đỗ Cao Trường H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tạm thời chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Đỗ Cao Trường H cấp dưỡng nuôi con chung, anh Đỗ Cao Trường H vắng mặt không có lời trình bày nên không xem xét giải quyết. [6] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết là phù hợp. [7] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị N trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 21, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đỗ Cao Trường H.

- Về con chung: Giao 02 cháu Đỗ Hưng T1, sinh ngày 23/9/2021 và cháu Đỗ Bá H1, sinh ngày 23/9/2021 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Giao 02 cháu Đỗ Phú T, sinh ngày 21/02/2012 và cháu Đỗ Minh Q, sinh ngày 08/5/2017 cho anh Đỗ Cao Trường H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Tạm thời chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Đỗ Cao Trường H cấp dưỡng nuôi con chung, anh Đỗ Cao Trường H vắng mặt không có lời trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Chị Nguyễn Thị N, anh Đỗ Cao Trường H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Khi cần thiết, chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007263 ngày 07 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Cao Trường H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ