- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Triệu Thị Thanh Đ - anh Phùng Văn X"
- Tòa quyết gì? Xử: Cho chị Triệu Thị Thanh Đ được ly hôn anh Phùng Văn X.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST Ngày 22 tháng 9 năm 2023 "V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phùng Văn Thông
2. Bà Vũ Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 136/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Thanh Đ, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở hiện nay: Xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phùng Văn X, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở hiện nay: Tổ 8, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 07 tháng 3 năm 2023, các lời khai tiếp theo và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn - chị Triệu Thị Thanh Đ trình bày.
Chị đăng ký kết hôn với anh Phùng Văn X ngày 20/4/2020 tại UBND xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng anh X và gia đình anh X. Vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh X nghiện ma túy, nhiều lần chị khuyên bảo nhưng không nghe. Vợ chồng sinh ra cãi vã, va chạm, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vợ chồng đã sống ly thân nhau 02 năm nay. Nay xác Đ tình cảm vợ chồng không còn. Chị xin được ly hôn anh X.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung
Về tài sản, công nợ và các vấn đề khác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn - anh Phùng Văn X đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt nên không lấy được lấy khai và không tiến hành hòa giải được giữa các đương sự. Tại buổi làm việc ngày 01/8/2023 với Công an xã T, Tòa án đã gọi cho anh Phùng Văn X theo số điện thoại xxxx.xxx.xxx, qua điện thoại anh X có nói anh biết việc chị Đ xin ly hôn anh, anh nhất trí ly hôn. Hiện anh đang ở tại địa chỉ tổ 8, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang, đề nghị Tòa án gửi văn bản cho anh tới địa chỉ trên. Anh nhất trí chọn Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết việc ly hôn.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường trình bày quan điểm như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi xét xử thẩm phán giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng quy Đ của Bộ luật tố tụng dân sự, việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, quá trình thu thập chứng cứ tuân thủ đúng các quy Đ của pháp luật. Việc chấp hành thời hạn xét xử đúng quy Đ. Tại phiên tòa, việc khai mạc phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng tại phiên tòa được thực hiện đúng quy Đ. Nguyên đơn thực hiện đúng các quy Đ của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quy Đ của Bộ luật tố tụng dân sự . Những yêu cầu, kiến nghị về thủ tục tố tụng: Không có.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn anh X của chị Đ. Về tài sản, công nợ, đất canh tác và công sức các bên đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đ phải chịu theo quy Đ của pháp luật.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường. Hội đồng xét xử nhận Đ:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Triệu Thị Thanh Đ khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Phùng Văn X, hiện anh X có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường theo quy Đ tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về tố tụng: Chị Triệu Thị Thanh Đ đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phùng Văn X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy Đ của pháp luật.
[3] Về quan hệ Hôn nhân và gia đình giữa chị Triệu Thị Thanh Đ và anh Phùng Văn X thấy rằng:
Chị Triệu Thị Thanh Đ và anh Phùng Văn X kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký tại UBND xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 20/4/2020 là phù hợp với quy Đ của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Qua trình bày của đương sự và xác minh tại UBND xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc thì: Nguyên nhân vợ chồng anh chị mâu thuẫn là do anh Phùng Văn X nghiện ma túy, chị Đ nhiều lần khuyên bảo nhưng anh X không nghe, vợ chồng sinh ra cãi vã, va chạm, tình cảm ngày càng lạnh nhạt và đã sống ly thân nhau 02 năm nay. Ngày 31/12/2021, anh Phùng Văn X bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường quyết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Đến nay, anh X đã chấp hành xong quyết Đ, trở về địa phương và đang sinh sống cùng bố mẹ tại tỉnh Hà Giang. Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng anh X không đến Tòa án làm việc nên không thể tiến hành hòa giải được.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh X đã đến mức căng thẳng, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Việc chị Đ xin ly hôn anh X là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Đ và anh X không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản, công nợ, đất canh tác và công sức: Do chị Đ và anh X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Đ phải chịu theo quy Đ của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Cho chị Triệu Thị Thanh Đ được ly hôn anh Phùng Văn X.
Về án phí: Chị Triệu Thị Thanh Đ phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005942 ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Chị Đ đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy Đ của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |