vanban.org

Bản án 65/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thu T.

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu T và anh Trương Minh T được ly hôn. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu ly hôn với anh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thu T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Bằng

Bà Nguyễn Thị Kim Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 193/ 2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T

sinh năm 1989

(Vắng mặt)

2. Bị đơn:

Anh Trương Minh T

sinh năm 1989

Cùng địa chỉ: Số 91/3A, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Trương Minh T quen biết, tìm hiểu yêu thương nhau khoảng 01 năm thì tự nguyện đi đến đăng ký hôn và được 12/10/2009. Đây là hôn nhân lần thứ nhất của chị T.

Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm đến năm 2019 thì thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do anh T không lo lắng làm ăn lo cho gia đình, không thương yêu vợ con mà thường đi chơi, uống rượu với bạn bè về nhà kiếm chuyện chửi bới, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của chị T. Mặt khác anh T có biểu hiện không chung thủy, sự việc này chị T biết được qua các tin nhắn anh T nhắn tin với người phụ nữ khác và có lần chị T còn nghe được bạn anh T cho biết thông tin anh T thường đi chơi với người phụ nữ khác, thực tế như thế nào chị T khai như vậy chứ không có chứng cứ chứng minh.

Nhiều lần chị T cho anh T cơ hội thay đổi nhưng anh T vẫn chứng nào tật đấy, thậm chí anh T luôn tỏ thái độ xem thường chị T.

Do sau khi kết hôn kinh tế khó khăn nên vợ chồng phải sống chung cùng gia đình chị T và gửi các con cho bố mẹ chị T chăm sóc nhưng trong quá trình chung sống cùng gia đình chị T anh T không tôn trọng bố mẹ chị, nhiều lần còn lớn tiếng cự cãi với cha mẹ chị T dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng.

Từ đầu năm 2022 đến nay anh T rất ít khi ở nhà, anh T thường đi chơi tụ tập bạn bè khoảng 01 tuần mới về nhà thăm con rồi ở nhà được 02 đến 03 ngày lại tiếp tục đi chơi với bạn bè. Kể từ đó đến nay vợ chồng không nói chuyện với nhau, không quan tâm nhau, việc ai nấy làm.

Nay chị T xác định đã hết tình cảm vợ chồng với anh T, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Trương Minh T.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là cháu Trương Hoàng Ánh N, sinh ngày 05/6/2010, Trương Hoàng Thanh H, sinh ngày 23/3/2016, Trương Hoàng Bảo P, sinh ngày 25/4/2017 và cháu Trương Hoàng Khánh V, sinh ngày 03/11/2021.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2023 chị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trương Hoàng Khánh V và cháu Trương Hoàng Bảo P và đồng ý giao cháu Trương Hoàng Thanh H và cháu Trương Hoàng Ánh N cho anh T nuôi dưỡng. Tạm thời không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Ngày 28/02/2023 chị T có đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể về con chung khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng 04 con chung. Tạm thời chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con vì từ trước đến nay anh T không phụ giúp chị T chăm sóc con chung.

Hiện nay nghề nghiệp của chị T là công nhân thu nhập trung bình khoảng 7.000.000đ (bảy triệu đồng), mặt khác hiện nay chị T và các con đang sống cùng với cha mẹ nên còn được cha mẹ phụ giúp về kinh tế cũng như chăm sóc con chung nên chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có

Bị đơn - anh Trương Minh T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thu T và anh Trương Minh T được ly hôn.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 04 con chung là cháu Trương Hoàng Ánh N, sinh ngày 05/6/2010, Trương Hoàng Thanh H, sinh ngày 23/3/2016, Trương Hoàng Bảo P, sinh ngày 25/4/2017 và cháu Trương Hoàng Khánh V, sinh ngày 03/11/2021 cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

+ Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Trương Minh T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/10/2009. Căn cứ các Điều 9, 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân của chị T và anh T là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị T và anh T đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019, mặc dù vẫn sống chung nhà với nhau nhưng từ đầu năm 2022 thì vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình, anh T thường bỏ nhà đi chơi qua đêm khoảng 01 tuần mới về nhà thăm con; sự việc này mặc dù không được anh T thừa nhận nhưng phù hợp với kết quả xác minh ngày 20/4/2023 tại Ban ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai xác định:“... Quá trình vợ chồng chị T, anh T chung sống với nhau có xảy ra mâu thuẫn nhưng ban ấp không nắm được nguyên nhân do không nhận được đơn yêu cầu hòa giải mâu thuẫn của vợ chồng chị T, anh T ... từ đầu năm 2022 đến nay anh T thường bỏ nhà đi khoảng 01 tuần mới về nhà thăm con ...”. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để kêu gọi vợ chồng về đoàn tụ gia đình nhưng anh T đều không đến thể hiện việc anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị T.

Từ các phân tích trên, xét mâu thuẫn giữa chị T và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị T và anh T có 04 con chung là cháu Trương Hoàng Ánh N, sinh ngày 05/6/2010, Trương Hoàng Thanh H, sinh ngày 23/3/2016, Trương Hoàng Bảo P, sinh ngày 25/4/2017 và cháu Trương Hoàng Khánh V, sinh ngày 03/11/2021.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo kết quả xác minh ngày 20/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai xác định: “... Chị T và anh T có 04 con chung là các cháu Trương Hoàng Ánh N, sinh ngày 05/6/2010, Trương Hoàng Thanh H, sinh ngày 23/3/2016, Trương Hoàng Bảo P, sinh ngày 25/4/2017 và cháu Trương Hoàng Khánh V, sinh ngày 03/11/2021, hiện 04 con chung đang sống cùng chị T và gia đình chị T tại địa chỉ 91/3A, ấp Đ, xã G, huyện T và được chị T chăm sóc ổn định về mọi mặt………….”. Như vậy, hiện các con chung đang sống cùng với chị T và chị T đảm bảo điều kiện chăm sóc cho con chung; yêu cầu của chị T phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao bốn con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng chị T không yêu cầu nên tạm thời chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thu T.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu T và anh Trương Minh T được ly hôn.

2. Về con chung:

2.1. Giao các cháu Trương Hoàng Ánh N, sinh ngày 05/6/2010, Trương Hoàng Thanh H, sinh ngày 23/3/2016, Trương Hoàng Bảo P, sinh ngày 25/4/2017 và cháu Trương Hoàng Khánh V, sinh ngày 03/11/2021 cho chị Nguyễn Thị Thu T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

2.2 Anh Trương Minh T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Tạm thời anh Trương Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Thu T không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0009187 ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ