- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị B và anh M"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TS | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19/4/2023 V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TS, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt
2. Ông Đặng Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TS, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TS tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TS xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 500/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim B, sinh năm 1981 (Có mặt)
Địa chỉ: khóm TH A, thị trấn OE, huyện TS, tỉnh An Giang.
* Bị đơn: Anh Cao Văn M, sinh năm 1984 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp SH, xã AB, huyện TS, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim B trình bày:
Chị và anh Cao Văn M do mai mối và sống chung vào năm 2015, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AB, huyện TS, tỉnh An Giang ngày 24/4/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khoảng hơn 01 năm sau thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải. Đến năm 2020 khi mẹ chị bệnh thì mâu thuẫn ngày càng nhiều nên đã ly thân cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn anh Cao Văn M.
- Về quan hệ con chung: Không có.
- Về quan hệ tài sản:
+ Về tài sản chung: Không có.
+ Về nợ chung: Không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Cao Văn M trình bày:
Anh và chị Kim B do mai mối và sống chung vào năm 2015, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AB, huyện TS, tỉnh An Giang ngày 24/4/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó thì vợ chồng cũng có những mâu thuẫn nhỏ trong đời sống hàng ngày nên cũng thường hay cự cải. Đến năm 2020 thì mẹ vợ anh bệnh nên chị Kim B nói là đi thành phố Hồ Chí Minh để nuôi mẹ vợ bệnh, sau đó chị Kim B đi làm luôn nên ly thân cho đến nay. Nay chị Kim B yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý ly hôn do anh cũng còn tình cảm với chị Kim B, anh có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Không có.
- Về quan hệ tài sản:
+ Về tài sản chung: Không có.
+ Về nợ chung: Không có.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về nội dung: Căn cứ theo các quy định của pháp luật, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim B được ly hôn anh Cao Văn M.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, bị đơn anh Cao Văn M có địa chỉ tại ấp SH, xã AB, huyện TS, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TS theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim B và anh Cao Văn M do mai mối và sống chung vào năm 2015, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AB, huyện TS, tỉnh An Giang ngày 24/4/2015. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Kim B và anh M sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng khoảng hơn 01 năm sau thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải, đến năm 2020 khi mẹ chị Kim B bệnh thì mâu thuẫn ngày càng nhiều nên đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay.Về phía anh M thừa nhận trong đời sống hàng ngày cũng có những mâu thuẫn nhỏ nên thường hay cự cải. Đến năm 2020 thì mẹ vợ anh bệnh nên chị Kim B nói là đi thành phố Hồ Chí Minh để nuôi mẹ vợ bệnh, sau đó chị Kim B đi làm luôn nên ly thân cho đến nay, chứ vợ chồng cũng không có mâu thuẫn gì lớn. Nay chị Kim B yêu cầu được ly hôn thì anh không đồng ý vì anh cũng còn thương chị Kim B nên mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh lại không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để tạo điều kiện cho chị Kim B và anh M hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng chị Kim B vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M vì tình cảm vợ chồng đã không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, chị Kim B và anh M đã không còn sống chung với nhau từ năm 2020 đến nay.
Từ những nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Kim B và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B.
[2.2] Về quan hệ con chung: Không có.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Do chị Nguyễn Thị Kim B yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim B.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim B được ly hôn anh Cao Văn M.
Giấy chứng nhận kết hôn số 24, Quyển số 01/2015 ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã AB, huyện TS, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con chung: Không có.
3. Về quan hệ tài sản:
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Kim B và anh Cao Văn M không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Nguyễn Thị Kim B và anh Cao Văn M vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách là đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011325 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TS, tỉnh An Giang.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện TS; - Chi cục THADS huyện TS; - UBND xã AB, huyện TS, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Minh Tâm |