- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-6-2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thúy Nga và bà Nguyễn Thị Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2023/TLST- HNGĐ ngày 13/03/2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1975
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1973
Cùng cư trú tại:khu tái định cư, ấp 1, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Văn S kết hôn tự nguyện, bắt đầu chung sống với nhau vào năm 1994. Ngày 29/11/2006 đăng ký kết hôn số 71, quyển số 03/2006 tại UBND xã Phú Ngọc, huyện Định Quán. Cuộc sống chung hạnh phúc khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông S uống rượu và kiếm chuyện, đồng thời sống không chung thủy, có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Hai người đã sống ly thân khoảng 05 tháng nay. Bà đã cố gắng khuyên can nhưng ông S vẫn không thay đổi. Vì vậy bà không còn tình cảm gì đối với ông S. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S.
- Về nuôi con: có 03 con chung gồm: Huỳnh Thị Ngọc A1, sinh ngày 20/10/1995, Huỳnh Thị Quế A2, sinh ngày 29/3/2001 và Huỳnh Anh P, sinh ngày 02/6/2008. Hiện nay con chung Ngọc A1 và Quế A2 đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà K yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Anh Phát và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai của bị đơn ông Huỳnh Văn S trình bày.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông thừa nhận và thống nhất như phần trình bày của bà K như trên là đúng sự thật, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do hai người không hòa hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm sống nên không có tiếng nói chung trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Ông nhận thấy tình cảm thương yêu không còn nên đồng ý ly hôn với bà K.
- Về nuôi con: Ông và bà K có 03 con chung gồm: Huỳnh Thị Ngọc A1, sinh ngày 20/10/1995, Huỳnh Thị Quế A2, sinh ngày 29/3/2001 và Huỳnh Anh Ph, sinh ngày 02/6/2008. Hiện nay con chung Ngọc A1và Quế A2 đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông thỏa thuận đồng ý giao con chung Huỳnh Anh P cho bà K được nuôi dưỡng. Bà K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hàng tháng thì ông cũng đồng ý.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn và bị đơn có đơn xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K. Về hôn nhân: Cho bà K được ly hôn với ông S. Về con chung: Giao con chung Huỳnh Anh Phát cho bà K được trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông S không phải cấp dưỡng nuôi con do bà K không yêu cầu. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Về án phí: Bà K phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
. Xác định thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Ông Huỳnh Văn S có nơi cư trú tại ấp 1, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán. Bà K yêu cầu ly hôn, vì vậy cần xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xác định tư cách đương sự: Ngày 13/03/2023, Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện về việc bà K xin ly hôn với ông S. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà là nguyên đơn, ông S là bị đơn trong vụ án.
[1.3]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xét xử vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà K và ông S được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn số 71, quyển số 03/2006, ngày 29/11/2006 tại UBND xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Như vậy, hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/03/2023, ngày 04/4/2023 của bà K, bản tự khai ngày 04/04/2023 của ông S thể hiện mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, không có tiếng nói chung nên 02 người không còn sống chung với nhau, ông S cũng đồng ý ly hôn với bà K. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, bà K và ông S đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận nên cho bà K được ly hôn với ông S.
- Về nuôi con chung: có 03 con chung Huỳnh Thị Ngọc A1, sinh ngày 20/10/1995, Huỳnh Thị Quế A2, sinh ngày 29/3/2001 và Huỳnh Anh P, sinh ngày 02/6/2008. Hiện nay 02 con chung Ngọc A1 và Quế A2 đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không ai phải nuôi dưỡng. Riêng đối với con chung Anh P thì các đương sự thỏa thuận giao con chung Anh Phát cho bà K nuôi dưỡng. Bên cạnh đó cháu P cũng có đơn nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ. Để bảo đảm cuộc sống cho con chung phát triển tốt về mặt thể chất cũng như ổn định vấn đề tinh thần, tâm lý cho trẻ nên tiếp tục giao con chung cho bà K được nuôi dưỡng là có cơ sở. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình, do bà K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời miễn cho ông S nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Bà K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 11, Điều 18, Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị K được ly hôn với ông Huỳnh Văn S.
- Về nuôi con chung: Hai con chung Huỳnh Thị Ngọc A1, sinh ngày 20/10/1995, Huỳnh Thị Quế A2, sinh ngày 29/3/2001 đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không ai phải nuôi dưỡng.
Giao con chung Huỳnh Anh P, sinh ngày 02/6/2008 cho bà Nguyễn Thị K được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời miễn cho ông S nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, ông S và bà K có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ bà K đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004141 ngày 13/03/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bà K và ông S biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Định Quán; - Chi cục THA DS huyện Định Quán; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, số 71, quyển số 03, ngày 29/11/2006 để ghi vào sổ hộ tịch; - Lưu Hồ sơ – Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |