- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị S "Ly hôn" Nguyễn An X"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị S về việc "Ly hôn" với ông Nguyễn An X.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thiên Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quốc Lệ
2. Bà Đặng Thị Bích Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1980 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã P, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn An X, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã P, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/4/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn An X tổ chức lễ cưới vào năm 2001 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An vào ngày 08/3/2001. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong vấn đề tài chính và ông X không có trách nhiệm với gia đình. Bà và ông X đã ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nên bà yêu cầu ly hôn với ông X.
Về con chung: Bà và ông X có hai con chung tên Nguyễn Thị Tuyết Như, sinh năm 2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Tuấn Khanh, sinh ngày 20/8/2008, hiện cháu Khanh đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Khanh, không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Bà và ông X không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn An X đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Cháu Nguyễn Tuấn Khanh có ý kiến trong trường hợp cha mẹ không còn chung sống với nhau thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Phạm Thị S khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn An X. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn An X đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu ly hôn của bà S, Hội đồng xét xử thấy rằng;
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị S và ông Nguyễn An X xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống thì hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nay bà S xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông X. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà S có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, riêng ông X vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của bà S. Từ đó, cho thấy ông X cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa các đương sự đã trầm trọng, việc đoàn tụ không có kết quả, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S.
Về con chung: Bà S và ông X có hai con chung tên Nguyễn Thị Tuyết Như, sinh năm 2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Tuấn Khanh, sinh ngày 20/8/2008. Sau khi ly hôn, bà S yêu cầu được nuôi cháu Khanh. Ông X vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này. Xét thấy, hiện cháu Khanh đang sống với bà S, cuộc sống đã ổn định, hơn nữa, nguyện vọng của cháu Khanh là muốn sống với mẹ. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cháu Khanh cho bà S được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về phần cấp dưỡng nuôi con: Do bà S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông X không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung, đồng thời xác định giữa bà và ông X không có nợ chung. Ông X vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Phạm Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 9, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị S về việc "Ly hôn" với ông Nguyễn An X.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị S được ly hôn với ông Nguyễn An X.
2. Về con chung: Bà Phạm Thị S và ông Nguyễn An X có hai con chung tên Nguyễn Thị Tuyết Như, sinh năm 2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Tuấn Khanh, sinh ngày 20/8/2008. Sau khi ly hôn, bà S được quyền nuôi dưỡng cháu Khanh. Ông X không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung: Bà Phạm Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Phạm Thị S xác định giữa bà và ông Nguyễn An X không có nợ chung.
5. Về án phí: Bà Phạm Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009806 ngày 04/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Bà S đã nộp đủ án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bến Lức. - UBND xã Phước Lợi, huyện Bến Lức. - Các đương sự. - Lưu HS, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thiên Trang |