- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Đình Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đình Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2022/HSST Ngày: 12/8/2022 s |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Chi
Ông Ngô Văn Khanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Duy Toàn – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
NGÔ ĐÌNH Q, sinh năm 1975 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 45, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: 175 Võ An Ninh, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Thợ may; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đình M (c) và bà Nguyễn Thị T (c); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ 3; Có vợ là Nguyễn Thị Bích V và 02 con chung (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
* Người bị hại: Anh Lê Trung Ng, sinh năm 2003; Địa chỉ: Phòng 705 nhà số 5, khu chung cư thuộc tổ 18 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
* Người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Nam Tr, sinh năm 1955; Địa chỉ: Phòng 705 nhà số 5, khu chung cư thuộc tổ 18 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Đồng Thị Uyên P, sinh năm 1956; Địa chỉ: Phòng 705 nhà số 5, khu chung cư thuộc tổ 18 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1969; Địa chỉ: 129/8 đường Nguyễn Công Hoan, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Hoàng Trọng T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Phòng 107 nhà số 5, khu chung cư thuộc tổ 18 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh năm 1984; Địa chỉ: Phòng 107 nhà số 5, khu chung cư thuộc tổ 18 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h00 ngày 24/4/2021, Ngô Đình Q và vợ là bà Nguyễn Thị Bích V đến nhà ông Lê Nam Tr và bà Đồng Thị Uyên P tại phòng 705 nhà số 05, Khu chung cư thuộc tổ 18 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để đòi nợ. Trước khi đến thì Q có nhờ vợ chồng anh Hoàng Trọng T và bà Nguyễn Ngọc Ánh X đi cùng, vì anh Tâm là người giới thiệu cho bà Phương, ông Trình vay tiền. Tại phòng khách nhà ông Trình lúc này có Q, bà Vân, bà Phương, ông Trình, ông Tâm, bà Xá và cháu nội của ông Trình là anh Lê Trung Ng. Trong lúc ngồi nói chuyện liên quan đến việc vay tiền thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Q có lời nói to tiếng và chỉ tay về phía bà Phương. Thấy vậy, anh Nguyên đập bàn đứng dậy rồi gạt tay Q ra và xông về phía Q. Lúc này, trên bàn đang có sẵn ly nước nên Q cầm ly đánh một cái về phía Nguyên trúng vào vùng mặt gây chảy máu rồi Q, anh Nguyên và bà Phương lao vào xô xát dẫn đến cả ba người đều ngã xuống nhà. Lúc này, ông Trình nghe to tiếng vội chạy trong bếp ra, thấy Nguyên bị đánh nên bức xúc lấy đoạn thanh kim loại (rỗng ruột có kích thước 1,2 cm x 1,2 cm x 40 cm) có sẵn ở trong nhà đánh vào người Q một cái trúng vào vùng đầu gây chảy máu. Lúc này, Nguyên vùng dậy chạy ra ngoài, bà P cũng chạy theo để chăm sóc cho Ng. Q bị ông Tr đánh nên cũng bỏ chạy ra ngoài thì bị vấp té ngã, ông Trình tiếp tục dùng đoạn thanh kim loại đánh 02 đến 03 cái vào vùng lưng và chân của Q. Sau đó, anh T và mọi người vào can ngăn, Q và anh Nguyên được đưa đi Bệnh viện để chữa trị vết thương.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 673/C09C-Đ3 ngày 21/6/2021, của Phân viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của của anh Lê Trung Ng tại thời điểm giám định là: 11% (mười một phần trăm), các tổn thương này do vật sắc gây ra.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1275/C09C-Đ3 ngày 29/10/2021, của Phân viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của của anh Ngô Đình Q tại thời điểm giám định là: 02% (hai phần trăm). Trong đó, tổn thương ở vùng đầu đỉnh phải là do vật tay gây ra là 01%, tổn thương mặt gần đốt 3 ngón II bàn tay phải do vật sắc gây ra là 01%.
Tang vật tạm giữ:
- 01 đoạn thanh kim loại rỗng ruột có kích thước 1,2 cm x 1,2 cm, dài 40cm – Đây là thanh kim loại ông Trình dùng để đánh Q.
- 01 hộp đựng các mảnh vỡ thủy tinh – Đây là các mảnh vỡ ly thủy tinh được thu tại nhà bà Phương, ông Trình.
Về dân sự: Bị cáo Ngô Đình Q đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại là anh Lê Trung Ng, anh Nguyên không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Q.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 16/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Ngô Đình Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ngô Đình Q về tội “Cố ý gây thương tích” như nội dung Cáo trạng truy tố. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Ngô Đình Q mức án từ 15 – 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 – 36 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau: Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
- 01 đoạn thanh kim loại rỗng ruột có kích thước 1,2 cm x 1,2 cm, dài 40cm
- 01 hộp đựng các mảnh vỡ thủy tinh.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Ngô Đình Q đã bồi thường chi phí điều cho bị hại Lê Trung Ng, hiện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo Ngô Đình Q khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để ở nhà chăm sóc cho gia đình, vợ và các con nhỏ.
Người bị hại Lê Trung Ng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra người bị hại đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo Ngô Đình Q để có điều kiện cải tạo tốt, chăm sóc vợ con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm Q, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, những người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Đình Q: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, lời khai của người bị hại, những người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19h30 ngày 24/4/2021, tại phòng 705, nhà số 5, Khu chung cư thuộc tổ 18 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng do có mâu thuẫn về việc vay tiền với bà Đồng Thị Uyên P và ông Lê Nam Tr; Mặc khác do bức xúc trước thái độ của anh Lê Trung Ng nên Ngô Đình Q đã có hành vi dùng một cái ly thủy tinh có sẵn trên bàn đánh, gây thương tích cho anh Nguyên với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% (Mười một phần trăm).
Hành vi trên của bị cáo Ngô Đình Q đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, hành vi của bị cáo Ngô Đình Q thì thấy: Chỉ vì một chút mâu thuẫn về việc vay tiền với bà Đồng Thị Uyên P, ông Lê Nam Tr và bức xúc trước thái độ của anh Lê Trung Ng vì nghĩ anh Nguyên sắp đánh mình nên Ngô Đình Q đã có hành vi dùng một cái ly thủy tinh có sẵn trên bàn đánh, gây thương tích cho anh Nguyên với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đối với bị cáo phải xử phạt một mức án tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Đình Q thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại và người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi 02 con còn nhỏ đang đi học, bản thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi khi có lời lẽ, thái độ thách thức bị cáo. Đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ sức răn đe bị cáo như đề nghị của đại diện VKS tại phiên toà là phù hợp.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Đình Q đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Trung Ng, hiện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 đoạn thanh kim loại rỗng ruột có kích thước 1,2 cm x 1,2 cm, dài 40cm
- 01 hộp đựng các mảnh vỡ thủy tinh.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2022.
. Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:
Đối với việc Ngô Đình Q bị thương tích 02% (trong đó tổn thương vùng đầu là 01% - do ông Trình gây ra; tổn thương ở tay 01% - do quá trình xô xác bị mảnh vỡ của thủy tinh gây ra). Ngày 03/4/2022, bị cáo Ngô Đình Q đã tự rút đơn, không yêu cầu khởi tố vụ án, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Lê Nam Tr và không đề nghị xem xét thương tích ở vùng tay nên ngày 26/4/2022, Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ông Lê Nam Tr về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác là có cơ sở. HĐXX không đề cập.
Đối với việc ông Ngô Đình Q và vợ là bà Nguyễn Thị Bích V có cho ông Lê Nam Tr và bà Đồng Thị Uyên P vay tiền. Tuy nhiên, trong hồ sơ không có chứng cứ xác định việc cho vay và lãi suất như thế nào nên không có cơ sở xem xét về hành vi cho vay tiền của Q và bà Vân có đúng quy định hay không. Do đó HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo Ngô Đình Q phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đình Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”
2. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Ngô Đình Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tuyên giao bị cáo về Uỷ ban nhân dân phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự, Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- 01 đoạn thanh kim loại rỗng ruột có kích thước 1,2 cm x 1,2 cm, dài 40cm
- 01 hộp đựng các mảnh vỡ thủy tinh.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2022.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Ngô Đình Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Q kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, những người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan có Q kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có Q thỏa thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Liên Chiểu; - VKSND TP Đà Nẵng; - Chi cục THA dân sự quận Liên Chiểu; - Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà Trần Nguyễn Thi Thi |