- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thành T bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của BLHS - phạm tội trộm cắp…"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Nguyễn Thành T, sinh năm 1981; nơi sinh: Tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp Long Bình, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2022/HS-ST Ngày: 16/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Minh Thư;
Ông Lâm Viên Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Mỹ Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại Điểm cầu trung tâm Phòng xử án B, Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, số 172 đường Ông Ích Khiêm, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh và tại Điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an Quận 11, số 83 đường Tân Hóa, Phường 14, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, gồm có:
Người tiến hành tố tụng:
- Ông Nguyễn Văn Ngon – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11.
Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Ngọc Hoài – Thẩm phán Tòa án nhân dân Quận 11.
- Anh Nguyễn Đỗ Trọng – Chiến sỹ thuộc Nhà tạm giữ Công an Quận 11.
- Anh Nguyễn Phú Trung – Chiến sỹ thuộc Nhà tạm giữ Công an Quận 11.
Xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành T; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 18/5/1981 tại tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã Y, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú T (chết) và bà Cao Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 14/02/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2020/HS-ST; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 29/4/2009, bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2009/HSST; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2022; (Có mặt).
- Bị hại: Em Trần Phương A, sinh ngày 19/4/2006; địa chỉ: đường số , KDC K, phường Phước Long B, Thành phố Thủ Đức (Vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Xuân P, sinh năm 1972; địa chỉ: đường số , KDC K, phường Phước Long B, Thành phố Thủ Đức; là cha ruột của bị hại (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/4/2022, Nguyễn Thành T điều khiển xe môtô biển số 59X2-083.45 đến Nhà thi đấu Phú Thọ (số 211 đường Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11), gửi xe đi vào bên trong xem bóng rổ. Tại sân bóng rổ, T nhìn thấy em Cao Anh N (sinh năm: 2004), đang ngồi trên ghế xem bóng rổ, em N để bên cạnh 01 cái ba lô, bên hông ba lô có để 01 máy điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen do em Trần Phương A (sinh ngày: 19/4/2006), bạn học cùng trường gửi giữ giúp để chơi bóng rổ. Lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại nên đi bộ lại chỗ em N ngồi rồi lẻn ra phía sau em N. Lợi dụng lúc em N không để ý, T dùng tay phải lấy máy điện thoại. Em N phát hiện nên đã giữ T và tri hô, cùng những người xung quanh bắt giữ T, cùng vật chứng, bàn giao cho Công an Phường 15, Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã yêu cầu định giá đối với tài sản bị chiếm đoạt. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân Quận 11 kết luận: 01 (một) máy điện thoại di động hiệu Iphone 11, dung lượng 64Gb, màu đen, mua năm 2020, đã qua sử dụng, có giá là 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thành T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, dung lượng 64Gb, màu đen là vật chứng vụ án. Ngày 31/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã có quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại, chủ sở hữu là em Trần Phương A.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen-đỏ, mang biển kiểm soát: 59X2-083.45, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy bên trong (đây là xe bị cáo T sử dụng đi đến Nhà thi đấu Phú Thọ); 01 (một) giấy đăng ký xe số 032755.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J6+; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thành T; 01 áo thun màu đen tay ngắn; 01 quần jean màu xanh và tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Đây là tài sản cá nhân thu giữ của bị cáo T.
Ngày 02/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 11 đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh giám định số khung và số máy nguyên thủy của xe mô tô biển số 59X2-083.45. Tại kết luận giám định số 9073/KLGĐ-X(Đ4) kết luận: số khung bị mài đục, không xác định được số nguyên thủy; số máy bị mài đục, không xác định được số nguyên thủy. Ngày 16/6/2022, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh giám định biển số xe 59X2-083.45. Tại kết luận giám định số 3544/KL-KTHS ngày 29/6/2022, kết luận: biển số là giả.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành xác minh biển số xe 59X2-083.45, xác định: đây là biển kiểm soát được cấp cho xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đen - đỏ do ông Lê Văn T (sinh năm: 1962, HKTT: đường , phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ xe. Qua làm việc, ông T cho biết: trước đây giấy đăng ký xe mô tô biển số 59X2-083.45 từng bị mất và đã làm lại giấy đăng ký xe mới. Hiện tại, xe môtô cùng giấy đăng ký xe trên vẫn đang được người nhà sử dụng làm phương tiện đi lại, không bị mất. Bị cáo Nguyễn Thành T khai nhận: xe môtô cùng giấy đăng ký xe bị thu giữ là do bị cáo mua lại của một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực Chợ Lớn với giá 5.000.000 đồng. Bị cáo không rõ nguồn gốc xe này và sử dụng làm phương tiện để đi lại hàng ngày.
Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận thấy xe môtô biển số nêu trên cùng với giấy đăng ký xe số 032755 của xe môtô biển kiểm soát: 59X2-083.45 mang tên Lê Văn T không liên quan đến vụ án đang tiến hành điều tra. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tách riêng vụ việc để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành T có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bản Cáo trạng số 66/CT-VKSQ11 ngày 19 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T tội danh “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đề nghị xử lý vật chứng như sau: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung J6+; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thành T và tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) là tài sản cá nhân của bị cáo T; tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun màu đen tay ngắn; 01 quần jean màu xanh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 30/4/2022, tại Nhà thi đấu thể dục thể thao Phú Thọ, số 211 đường Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, bị cáo Nguyễn Thành T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, dung lượng 64Gb màu đen, đã qua sử dụng trị giá 9.000.000 đồng, là tài sản của em Trần Phương A.
Bị cáo nhận thức rõ được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì tính tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Ngày 14/02/2020, bị cáo T bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, dung lượng 64Gb, màu đen, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã lập biên bản trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Em Trần Phương A và người đại diện hợp pháp là ông Trần Xuân P – cha ruột đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét;
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J6+; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thành T và tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) là tài sản cá nhân của bị cáo T không liên quan đến vụ án.
- 01 áo thun màu đen tay ngắn; 01 quần jean màu xanh là trang phục bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo T từ chối nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- Xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen-đỏ, mang biển số giả: 59X2-083.45, là xe bị cáo T sử dụng đi đến Nhà thi đấu Phú Thọ và 01 giấy đăng ký xe số 032755. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tách riêng vụ việc để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2022.
Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành T: 01 (một) máy điện thoại di động hiệu Samsung J6+; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thành T; tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun màu đen tay ngắn; 01 (một) quần jean màu xanh.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 31/LNK-ĐTTH ngày 23/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND - VKSND TPHCM;
(Đã ký)
- Sở Tư pháp TPHCM;
- PC 27 - CA TPHCM;
- VKSND Q.11;
- Công an Q.11;
- Chi cục THADS Q.11;
- Những người tham gia tố tụng;
Nguyễn Thanh Phúc
- Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 55 phút, ngày 16 tháng 9 năm 2022.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Minh Thư;
Ông Lâm Viên Đức.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2022, đối với:
Bị cáo Nguyễn Thành T; sinh năm: 1981, tại tỉnh Tiền Giang;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
2. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2022.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành T: 01 (một) máy điện thoại di động hiệu Samsung J6+; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thành T; tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun màu đen tay ngắn; 01 (một) quần jean màu xanh.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 31/LNK-ĐTTH ngày 23/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
5. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
6. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 10 phút, ngày 16 tháng 9 năm 2022.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
Số: 61/2022/HSST-QĐTG
Quận 11, ngày 16 tháng 9 năm 2022
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Minh Thư;
- Ông Lâm Viên Đức.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 16 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo: Nguyễn Thành T, sinh năm 1981; nơi sinh: Tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp Long Bình, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.
Điều 2
Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND Q.11; - Nhà tạm giữ CAQ11; - - Bị cáo; - - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phúc |