- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường G - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Nguyễn Trường G 08 (Tám) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2022/HS-ST Ngày: 26-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Tống Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 81/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 đối với:
1. Bị cáo: Nguyễn Trường G, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn L, xã Y, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn H và con bà Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ là Đỗ Thị L và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 09/01/2022 đến ngày 11/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2.1. Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
2.2. Anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
3. Người làm chứng: Anh Dương Văn P, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi chiều tối ngày 06/01/2022, Nguyễn Trường G đi làm ở Khu công nghiệp Quang Châu. Khi về đến khu vực cây xăng Khoa Giang thuộc địa phận thôn Vân Cốc 4, xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang thì G xuống uống nước ở một quán gần cây xăng. Qua nói chuyện với một số người không quen biết cũng đang ngồi uống nước ở quán thì G xin được số điện thoại 0338.197.026 của một người đàn ông tên là H (G không biết họ, tên đệm và địa chỉ của H) có bán pháo hoa nổ. Khoảng 18 giờ ngày 07/01/2022, do có nhu cầu mua pháo hoa nổ để chơi Tết Nguyên Đán nên G đã sử dụng số điện thoại 0865.399.287 của G để gọi điện vào số điện thoại 0338.197.026 của H mục đích hỏi mua pháo về sử dụng. Khi nói chuyện qua điện thoại, H hẹn gặp G ở khu vực ngã tư Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để trực tiếp thỏa thuận về việc mua bán pháo thì G đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, G và H gặp nhau tại rìa đường gần ngã tư Đình Trám thuộc thôn Hùng Lãm, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, H giới thiệu là người ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, H cao khoảng 1m65, dáng người gầy, đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không đeo biển kiểm soát, mặc quần bò rách, áo khoác tối màu, đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo kính và khẩu trang. G và H thoả thuận việc G mua của H 07 bệ pháo loại 36 quả với giá là 4.700.000 đồng. H yêu cầu G đặt cọc trước số tiền 200.000 đồng để làm tin và hẹn đến chiều tối ngày 08/01/2022 H sẽ gặp G để giao pháo cho G rồi lấy nốt tiền. Sau đó, G đồng ý đưa số tiền 200.000 đồng cho H để đặt cọc và đi về nhà. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/01/2021, G về đến nhà và gọi điện lại cho H nói là G không đủ tiền mua pháo, nếu H giảm giá thì G mới mua. Thấy vậy, H đồng ý giảm giá và thoả thuận bán cho G 07 bệ pháo loại 36 quả với giá 3.500.000 đồng (tức là 500.000 đồng/1 bệ pháo). Đến khoảng 19 giờ 40 phút ngày 08/01/2022, G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu sơn đỏ- đen, biển kiểm soát 98B3-249.84 đến khu vực cây xăng ngã tư Đình Trám để gặp H. Sau đó, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không đeo biển kiểm soát của H đi trước còn G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3-249.84 của G đi theo sau. Khi đi đến khu vực trước cổng Công ty DAVINA thuộc Khu công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang thì H và G dừng xe lại. Tại đây, H yêu cầu G đưa nốt số tiền 3.300.000 đồng sau đó sẽ chỉ chỗ để pháo thì G bảo H cho G kiểm tra pháo trước, H đồng ý. H chỉ cho G sang bụi cây ở lề đường đối diện và bảo G là pháo bên trong bao tải dứa ở bụi cây đó. G đi theo hướng tay H chỉ sang bụi cây đối diện bên đường để kiểm tra thì thấy trong bụi cây có 01 bao tải dứa, khi mở bao tải ra thấy có pháo bên trong nên G quay lại vị trí đỗ xe và đưa cho H số tiền 3.300.000 đồng. H cầm tiền và điều khiển xe mô tô đi đâu G không rõ. Sau đó, G đi tới chỗ bụi cây xách bao tải dứa bên trong có chứa 07 bệ pháo loại 36 quả đặt lên xe. Khi G đang khởi động xe mô tô để đi về nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện Việt Yên đến kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 bao tải dứa bên trong có 07 khối hình hộp vỏ bọc giấy màu, có tổng trọng lượng là 9,3kg có kích thước mỗi khối hình hộp là (14x14x14)cm (G khai là pháo nổ) được niêm phong trong một thùng bìa cát tông; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu sơn đỏ- đen, biển kiểm soát 98B3- 249.84; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus có số IMEI 353333073356816, lắp sim thuê bao số 0865.399.287.
Ngày 08/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trường G tại thôn L, xã Y, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Kết quả: không thu giữ đồ vật, tai liệu gì.
Ngày 09/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Trường G và chụp ảnh màn hình điện thoại các nội dung có liên quan đến việc mua bán pháo với đối tượng H, in hình ảnh chụp được ra giấy A4 và cho G ký xác nhận.
Ngày 10/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định để xác định các khối hình hộp đã thu giữ nêu trên có phải là pháo nổ hoặc pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ) không, khối lượng là bao nhiêu.
Tại Kết luận giám định số 56/KL-KTHS ngày 10/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
“Trong 01 (một) thùng bìa cát tông đã được niêm phong gửi giám định: 07 (bảy) khối hình hộp, mỗi khối đều có kích thước (14,5x14,5x14,5)cm vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối gồm 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau đều là Pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 9,3 kg (chín phẩy ba ki lô gam)”.
Với nội dung trên, tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 84/QĐ-VKS ngày 10/5/2022 của VKSND huyện Việt Yên đã truy tố Nguyễn Trường G về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trường G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Quyết định truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i; s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Trường G từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, bị cáo phải chịu thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Trường G cho UBND xã Y, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, số IMEI 353333073356816, có lắp sim số 0865.399.287.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa bên trong có 07 khối hình hộp vỏ bọc giấy màu, có kích thước mỗi hình hộp (14x14x14)cm, là pháo nổ có trọng lượng 8,6kg còn lại sau giám định được niêm phong bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Phần tranh luận: Bị cáo Nguyễn Trường G không có ý kiến tranh luận.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của phápluật.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định chung.
Về căn cứ xác định bị cáo có tội:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Quyết định truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 08/01/2022, tại khu vực trước cổng Công ty DAVINA thuộc Khu công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Nguyễn Trường G có hành vi tàng trữ trái phép 9,3kg pháo hoa nổ với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết được pháo nổ là mặt hàng nhà nước độc quyền quản lý, cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng nhưng vì mục đích muốn có pháo để đốt trong dịp tết nguyên đán nên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông (kinh doanh). Do đó cần có một hình phạt nghiêm đối với bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do vậy được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét đề nghị về mức hình phạt của Viện kiểm sát thì thấy:
Nguyễn Trường G là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (được sửa đổi bổ sung một số điều tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Trường G có đủ điều kiện được hưởng án treo và chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ pháo hoa với mục đích để đốt chơi tết, không có ý đồ thu lời bất chính, mặt khác bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo qua đó thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, màu sơn đỏ- đen, biển kiểm soát 98B3- 249.84 là tài sản của anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1970, trú tại thôn L, xã Y, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Anh S là người cho bị cáo mượn xe nhưng không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, do vậy ngày 26/01/2022 Cơ quan điều tra Công an huyện Việt Yên đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh S. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý vật chứng trên của Cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét, giải quyết vấn đề này.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, số IMEI 353333073356816, lắp sim số 0865.399.287. Xét thấy vật chứng này là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 8,6kg pháo hoa nổ còn lại sau giám định (gồm 07 khối hình hộp vỏ bọc giấy màu, kích thước mỗi hình hộp (14x14x14)cm, đựng trong 01 bao tải dứa được niêm phong bằng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang). Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông (tên H) đã bán pháo cho G vào ngày 08/01/2022. Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được đối tượng này nên tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị L là người đăng ký sử dụng số điện thoại 0865.399.287 và chị Nguyễn Thị Ánh T là người đăng ký sử dụng số điện thoại 0338.197.026. Quá trình điều tra, chị L và chị T không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không đặt ra xem xét, giải quyết trách nhiệm đối với những người này.
Đối với anh Nguyễn Trường S là người cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, biển kiểm soát 98B3- 249.84, quá trình điều tra cho thấy anh Sinh không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không đặt ra xem xét, giải quyết trách nhiệm đối với anh S.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Nguyễn Trường G 08 (Tám) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022. Giao bị cáo Nguyễn Trường G cho Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thửthách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
*Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, số IMEI 353333073356816, lắp sim số 0865.399.287.
Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa bên trong có 07 khối hình hộp, vỏ bọc giấy màu, kích thước mỗi hình hộp (14x14x14)cm, có tổng trọng lượng 8,6kg là pháo hoa nổ còn lại sau giám định được niêm phong bằng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trường G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo tronghạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Việt Yên; - Công an huyện Việt Yên; - Chi cục THADS huyện Việt Yên; - UBND xã Y, huyện Yên Dũng; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Lưu HS, VT; | THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thái Sơn |