vanban.org

Bản án 65/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng A Th phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vàng A Th 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A Th phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A Th phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HS-ST.
Ngày: 25-7-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Vương

Ông Quách Công Cầm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2022/TLST- ST ngày 31 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2022/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 07 năm 2022, đối với bị cáo:

Vàng A Th; tên gọi khác, không, sinh năm 1997, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A T (đã chết) và bà Mùa Thị Ch, sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Giàng Thị S, sinh năm 1997 và 02 con, con lớn sinh năm 2019; con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 06/3/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vàng A Ch, sinh năm 1990; trú tại: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 06/3/2022, tổ công tác Công an xã V, huyê ̣n V làm nhiệm vụ tạ i bản B , xã V, huyê ̣n V, tỉnh Sơn La phát hiện Vàng A Th điều khiển chiếc xe máy, màu xanh bạc đen, BKS: 26P1-039.58 phía sau chở Mùa A Th, sinh năm: 2001, trú tại: Bản B, xã V, huyện V có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác ra tín hiệu yêu cầu các đối tượng dừng xe để kiểm tra. Lúc này Mùa A Th đã nhảy khỏi xe bỏ chạy thoát. Tổ công tác giữ được Vàng A Th; tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải, phía trước của Th có 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng các viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, nghi là ma túy tổng hợp. Vàng A Th khai nhận là ma túy tổng hợp (Hồng phiến) của Th vận chuyển thuê cho Vàng A T, trú tại: Bản Ch, xã V, huyện V để hưởng tiền công là 1.000.000 đồng. Mùa A Th là người đi chơi với Th, không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Th. Căn cứ vào hành vi vi phạm, Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải Vàng A Th về trụ sở Công an huyện V bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyê ̣n V điều tra, làm rõ. Thu giữ của Vàng A Th: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO kèm 01 sim điện thoại; 01 chiếc nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu xanh bạc đen, biển kiểm soát: 26P1 - 039.58 và giấy tờ xe theo quy định pháp luật.

Ngày 07/3/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp với VKSND huyện V và phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành kiểm đếm, cân tịnh xác định khối lượng số 20 viên hồng phiến nghi là Methamphetamine thu giữ khi bắt quả tang Vàng A Th được tổng khối lượng là 1,8156 gam. Lấy 05 viên có khối lượng 0,4975 gam làm mẫu giám định ký hiệu “T”. Mẫu giám định “T” được bàn giao lại cho phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số 447 ngày 10/03/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu T là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là T=0,4975 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,8156 gam; Loại Methamphetamine.Hoàn lại đối tượng giám định: Không”.

Cáo trạng số: 39/CT-VKS ngày 31/05/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vàng A Th về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 250, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố Vàng A Th phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Vàng A Th từ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,1381 gam Methamphetamine và vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Vàng A Th, Vàng A T.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO kèm 01 sim đã qua sử dụng là tài sản sử dụng vào việc phạm tội.

- Bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000 đồng.

- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có ý kiến tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 06/3/2022, Vàng A Th đã có hành vi vận chuyển trái phép 1,8156 gam Methamphetamine từ khu vực đường quốc lộ 6 thuộc địa phận bản B, xã V, huyện V đến khu vực sân bóng của bản B, xã V mục đích để hưởng tiền công 1.000.000 đồng thì bị tổ công tác Công an xã V, huyện V, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng A Th phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1Điều 250 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo Vàng A Th đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,1381 gam Methamphetamine và vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Vàng A Th, Vàng A T là những vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO kèm 01 sim đã qua sử dụng là tài sản sử dụng vào việc phạm tội tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với chiếc xe máy 01 chiếc nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu xanh bạc đen, biển kiểm soát: 26P1 - 039.58 và giấy tờ xe thu giữ khi bắt quả tang Vàng A Th. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anhVàng A Ch, sinh năm: 1990, trú tại: Bản B, xã V, huyện V (là anh trai của Th). Ngày 06/3/2022, Th mượn xe của anh Ch để đi chơi; anh Ch không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Th. Ngày 15/4/2022, cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho anh Ch quản lý sử dụng là đúng quy định pháp luật.

Đối với Vàng A T, sinh năm: 1998, trú tại: Bản Ch, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai Vàng A T; đồng thời tiến hành đối chất giữa Vàng A T và Vàng A Th. Tuy nhiên, Vàng A T đều không thừa nhận hành vi thuê Vàng A Th vận chuyển ma túy như Th khai. Ngoài lời khai duy nhất của Vàng A Th không có chứng cứ nào khác chứng minh lời khai của Th là đúng sự thật. Do vậy, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vàng A T.

Đối với Mùa A Th, sinh năm: 2001, trú tại: bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La: Quá trình điều tra Vàng A Th khai Th chỉ là người đi chơi cùng Th; Th không biết Th cất giấu, vận chuyển trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành triệu tập, ra thông báo truy tìm Mùa A Th. Nhưng Th đã đi khỏi nơi cư trú, gia đình và chính quyền địa phương không biết đi đâu, làm gì. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện V chưa có căn cứ để điều tra, xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 250, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Vàng A Th phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Vàng A Th 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,1381 gam Methamphetamine và vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Vàng A Th, Vàng A T.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO kèm 01 sim đã qua sử dụng của Vàng A Th.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 63/BBVC-CCTHA ngày 03/06/2022.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ