vanban.org

Bản án 65/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 08/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Phạt tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) đối với bị cáo Nguyễn Hải L để sung quỹ nhà nước. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hải L sử dụng giấy tờ giả của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ơ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 65/2022/HS-ST
Ngày: 08 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Duyên

Ông Trần Sóng Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Đinh Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2022, Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 56/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐHPT–HS ngày 27 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hải L, sinh năm 1981; tại tỉnh H; giới tính: Nam; HKTT: Số 32A, Đ (số mới 112 Phủ Thượng Đ) phường V, quận N, thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Số 26 – 28 đường N, phường T quận 7, thành phố H; Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Họ tên cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1944; Họ tên mẹ: Hoàng Thị N, sinh năm 1948. Họ tên vợ: Đặng Thị Ngọc H, sinh năm 1981; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2009. Bị cáo là con đầu trong gia đình có 02 anh em. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/8/2020 bị cáo bị Uỷ ban nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt hành chính do điều khiển phương tiện giao thông mà hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép. Bị cáo đã đóng tiền phạt vào ngày 04/9/2020; Ngày 23/11/2021 bị cáo bị Cục Cảnh sát giao thông – phòng hướng dẫn tuần tra kiểm soát giao thông ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) về hành vi chạy quá tốc độ quy định. Bị cáo đã đóng tiền phạt vào ngày 23/11/2021.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/12/2021 cho đến nay. Ơ

(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 41 phút ngày 08 tháng 11 năm 2021 tại tuyến đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, Đội tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc 6 – phòng 8, Cục cảnh sát giao thông phát hiện xe ô tô biển số 51A-746.19 vi phạm tốc độ, khi dừng lại kiểm tra phát hiện lái xe Nguyễn Hải L sinh năm 1981 trú tại số 21 Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xuất trình 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 790098242889 mang tên Nguyễn Hải L do ông Võ Trọng Nhân – Trưởng phòng quản lý hồ sơ cấp giấy phép lái xe, Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh ký cấp ngày 08/4/2016, có giá trị đến ngày 08/4/2026 có dấu hiệu bị làm giả.

Qua làm việc Nguyễn Hải L khai nhận giấy phép lái xe hạng B2 số 790098242889 mang tên Nguyễn Hải L vừa xuất trình là giả. Vào tháng 8 năm 2020 do vi phạm luật giao thông đường bộ, Nguyễn Hải L đã bị tạm giữ bằng lái, tước quyền điều khiển xe tới tháng 01 năm 2022. Do có nhu cầu sử dụng xe ô tô, vào khoảng giữa năm 2020, Nguyễn Hải L đã sử dụng iphone 6 màu vàng qua mạng xã hội facebook để liên hệ với một tài khoản chuyên làm giả giấy tờ. Sau khi thỏa thuận, L đồng ý mua 01 Giấy phép lái xe giả với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Khoảng ba ngày sau, Nguyễn Hải L nhận được cuộc gọi ra gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) mặc áo khoác, đội nón bảo hiểm, đeo khẩu trang che kín mặt, người này đưa cho Nguyễn Hải L 01 bản giấy phép lái xe đã đặt từ trước. Sau khi kiểm tra, Nguyễn Hải L đồng ý nhận và trả số tiền 2.000.000 đồng cho người đàn ông trên. Đến ngày 08 tháng 11 năm 2021 khi đang lưu thông trên đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây đoạn đi qua ấp 9/4, xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hải L tiếp tục vi phạm luật giao thông đường bộ, khi tiến hành kiểm tra, đội cảnh sát giao thông nhận thấy thông tin trên giấy phép lái xe do Nguyễn Hải L xuất trình không giống với thông tin lưu trữ trên cơ sở dữ liệu nên đã tạm giữ giấy phép lái xe kể trên để tiến hành xác minh, làm rõ.

Kết luận giám định số 4701/C09B ngày 19 tháng 11 năm 2021 của phân viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận giấy phép lái xe hạng B2 số 790098242889 mang tên Nguyễn Hải L, sinh ngày 25/10/1981, người ký ông Võ Trọng Nhân – Trưởng phòng quản lý hồ sơ cấp giấy phép lái xe, Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh ký cấp ngày 08/4/2016 (ký hiệu A) được gửi tới giám định là giả.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hải L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Về vật chứng vụ án: Ơ

- 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 790098242889 mang tên Nguyễn Hải L do ông Võ Trọng Nhân – Trưởng phòng quản lý hồ sơ cấp giấy phép lái xe, Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh ký cấp ngày 08/4/2016, có giá trị đến ngày 08/4/2026 là giả, cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

- 01 điện thoại di động iphone 6 màu vàng của là phương tiện Nguyễn Hải L sử dụng liên lạc với đối tượng mua bán giấy tờ giả, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Tại Cáo trạng số 35/CT.VKS-TN ngày 25 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Nguyễn Hải L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải L từ 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) đến 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về vật chứng vụ án và án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hải L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng giữa năm 2020, Nguyễn Hải L sử dụng điện thoại iphone 6 qua mạng xã hội facebook đặt mua 01 giấy phép lái xe giả với giá 2.000.000 đồng để sử dụng. Đến 09 giờ 41 phút ngày 08 tháng 11 năm 2021 Nguyễn Hải L điều khiển xe ô tô biển số 51A-746.19 vi phạm tốc độ trên tuyến đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây. Khi làm việc với Đội tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc 6 – Phòng 8, Cục cảnh sát giao thông, Nguyễn Hải L đã Ơ xuất trình giấy phép lái xe giả kể trên thì bị phát hiện, xử lý. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm”.

Do đó, Cáo trạng số 35/CT.VKS-TN ngày 25 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Nguyễn Hải L về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.

3 Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu và các loại tài liệu, giấy tờ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

4 Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Nhân thân: Ngày 28/8/2020 bị Uỷ ban nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt hành chính do điều khiển phương tiện giao thông mà hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép. Bị cáo đã đóng tiền phạt vào ngày 04/9/2020; Ngày 23/11/2021 bị cáo bị Cục Cảnh sát giao thông – phòng hướng dẫn tuần tra kiểm soát giao thông xử phạt 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) về hành vi chạy quá tốc độ quy định. Bị cáo đã đóng tiền phạt vào ngày 23/11/2021.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đây là căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

5 Về quyết định hình phạt: Do bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có đến 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Mặt khác, bị cáo chỉ là nhất thời phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo đã thật sự hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo hiện có thu nhập ổn định và có khả năng thi hành án phạt tiền nên xét không cần thiết áp dụng phạt tù mà chỉ áp dụng phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

6 Về vật chứng vụ án:

- 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 790098242889 mang tên Nguyễn Hải L Ơ do ông Võ Trọng Nhân – Trưởng phòng quản lý hồ sơ cấp giấy phép lái xe, Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh ký cấp ngày 08/4/2016, có giá trị đến ngày 08/4/2026 là giả, cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

- 01 điện thoại di động iphone 6 màu vàng của bị cáo là phương tiện Nguyễn Hải L sử dụng liên lạc với đối tượng mua bán giấy tờ giả, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

7 Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

8 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; Điều 50; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Phạt tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) đối với bị cáo Nguyễn Hải L để sung quỹ nhà nước.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 790098242889 mang tên Nguyễn Hải L do ông Võ Trọng Nhân – Trưởng phòng quản lý hồ sơ cấp giấy phép lái xe, Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh ký cấp ngày 08/4/2016, có giá trị đến ngày 08/4/2026 là giả, cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

- 01 điện thoại di động iphone 6 màu vàng của bị cáo là phương tiện Nguyễn Hải L sử dụng liên lạc với đối tượng mua bán giấy tờ giả, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước (vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 29/4/2022 giữa Công an huyện Thống Nhất và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 6 và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hải L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối với bản án:

Ơ

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ