- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chang A S phạm tội “Chống người thi hành công vụ” khoản 1 Điều 330 BLHS - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Chang A S phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 65/2022/HS-ST Ngày: 12-8-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phƣơng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hảng A Nếnh.
2. Ông Lƣờng Văn Hƣởng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở, TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2022/TLST-HS, ngày 27 tháng 7 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXXST-HS, ngày 02/8/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chang A S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/12/2003, nơi sinh tại huyện TC, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Thôn HL, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: 9/12; Bố đẻ: Ly A N (đã chết); Mẹ đẻ: Chang Thị D (đã chết); gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; bị cáo chưa có vợ và con; Tiền sự; Tiền án: Không. Nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính; Chưa bị kết án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
1. Tổ tuần tra kiểm soát các phương tiện giao thông tại Km 16 + 300 QL279 thuộc Phòng PC11 Công an tỉnh Điện Biên. Người đại diện: Ông Đinh Tiên H – Phó trưởng phòng PC11 Công an tỉnh Điện Biên là Tổ trưởng (Vắng mặt có lý do).
2. Họ và tên: Lường Văn L, sinh năm 2001, địa chỉ: Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh Điện; đội 19, xã TH, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
3. Họ và tên: Poòng Trường G, sinh năm 1991, địa chỉ bản HL, xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
4. Họ và tên: Cà Xuân C, sinh năm 2001, địa chỉ bản Y, xã MP, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
5. Họ và tên: Triệu Tiến M, sinh năm 1977, địa chỉ tổ 3, phường HL, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
6. Họ và tên: Vũ Hồng Tu, sinh năm 1973, địa chỉ tổ 1, phường TB, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
7. Họ và tên: Trần Đình V, sinh năm 1995, địa chỉ tổ 9, phường HL, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
8. Họ và tên: Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1980, địa chỉ số nhà 258, tổ 6, phường TT, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Chang A S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Sáng ngày 30/4/2022 Chang A S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen – bạc, BKS 27X1 – 001.40 đi từ thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Điện Biên về thành phố Đ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Chang A S đi đến Km 16 + 300, Quốc lộ 279 thuộc bản Co Nỏng, xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên gặp tổ công tác số 01 thực hiện Kế hoạch 1266/KH-CAT-PV01 của Công an tỉnh Điện Biên do đồng chí Đinh Tiên H làm tổ trưởng đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực, phát hiện xe mô tô Chang A S đang điều khiển đồng chí cảnh sát giao thông Vũ Hồng Tu, tổ phó tổ công tác ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Do không có giấy phép lái xe, sợ bị xử phạt, Chang A S đã không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà đi chậm vờ dừng lại, khi đến cách đồng chí Tuấn khoảng 01 mét, Chang A S về số 3, lách sang phía bên phải theo hướng đi của Chang A S, rồi tăng ga bỏ chạy về hướng thành phố Đ. Sau khi Chang A S bỏ chạy, tổ công tác đã thông báo cho đồng chí Lường Văn L và đồng chí Cà Xuân C là cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ ở tổ chốt chặn số 02 biết. Khi nhận được tín hiệu qua bộ đàm của tổ công tác có đối tượng không chấp hành hiệu lệnh, đang bỏ chạy, đồng chí Lường Văn L đã phát hiện Chang A S đang điều khiển xe mô tô đi tới, đồng chí Lường Văn L dơ gậy cao su ra hiệu lệnh để cho Chang A S dừng xe. Nhưng Chang A S không dừng mà điều khiển xe chậm lại, khi đến cạnh đồng chí Lường Văn L và đồng chí Cà Xuân C khoảng 05 mét, Chang A S về số 3, tăng ga đi thẳng về phía đồng chí Lường Văn L và đồng chí Cà Xuân C, bánh trước xe mô tô đã đâm vào đùi bên phải của đồng chí Lường Văn L, làm đồng chí Lường Văn L ngã ra đường bị ngất, gây thương tích 06%, Chang A S và xe ngã ra đường. Ngay sau đó Chang A S quay lại lấy xe mô tô tiếp tục bỏ chạy, nhưng xe không nổ được máy. Chang A S bỏ xe mô tô nhảy xuống vực khu bờ suối bỏ trốn. Tổ công tác đã phối hợp với Công an xã Búng Lao đã truy bắt được Chang A S lập biên bản phạm tội quả tang, tiến hành đo nồng độ cồn, kiểm tra ma túy đối với Chang A S, nhưng không phát hiện nồng độ cồn, ma túy.
Ngày 06/5/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Chang A S về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 BLHS.
Bản cáo trạng số: 42/CT-VKSMA ngày 26/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Ảng để xét xử bị cáo Chang A S về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 BLHS.
Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Chang A S về tội "Chống người thi hành công vụ". Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Chang A S từ 09 tháng đến 01 năm tù.
* Trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo phối hợp với gia đình đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho ông Lường Văn L số tiền là 10.000.000đ. Ông Lường Văn L không yêu cầu đề nghị gì thêm đối với bị cáo.
- Ông Đinh Tiên H, Poòng Trường G, Cà Xuân C, Triệu Tiến M, Vũ Hồng Tu, Trần Đình V, Nguyễn Văn Tr không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và không có đề nghị gì.
* Vật chứng của vụ án:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 điều 47 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô Honda, loại xe Wave màu đen bạc, BKS 27X1 – 001.40, số máy HC12E-2881984, số khung RLHHC120XBY081980, xe đã cũ qua sử dụng, bị dập vỡ và trầy xước nhiều chỗ.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
+ 01 củ đèn xe máy Honda loại Wave α
+ 01 củ đen xi nhan phía trước xe Honda loại Wave α
+ 01 ốp củ đèn pha bằng cao su màu đen có ký hiệu STANLEY 22300
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu bạc có chữ CITY FASHION MOVER dài 29 cm, đầu rộng nhất 9,5 cm
+ 01 chiếc mũ bảo hiểm nửa đầu bằng nhựa màu đen
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu đen không rõ hình dạng có kích thước 22cm x 13 cm x 0,2 cm
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu đen không rõ hình dạng có kích thước 13cm x 3,8 cm x 0,2 cm
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu đen không rõ hình dạng có kích thước 10cm x 3,8 cm x 0,2 cm
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu đen không rõ hình dạng có kích thước 6,5cm x 1,4 cm x 0,2 cm
+ 01 bóng đèn pha xe máy bằng kim loại sáng màu hình trụ tròn dài 08 cm
* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Chang A S phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Chang A S thừa nhận toàn bộ hành vi chống người thi hành công vụ như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng cũng như bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nội dung vụ án:
Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Chang A S đã khai và công nhận: Hồi 10 giờ 15 phút ngày 30/4/2022, tại Km 16 + 300, Quốc lộ 279 thuộc bản Co Nỏng, xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, vì không có giấy phép lái xe, sợ bị xử phạt, Chang A S đang điều khiển xe mô tô đã không chấp hành hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra hành chính của tổ công tác số 01 Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên, mà còn có hành vi lao xe vào người đồng chí Lường Văn L là chiến sỹ cảnh sát cơ động Công an tỉnh Điện Biên đang thực hiện nhiệm vụ.
Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 42/CT-VKSMA ngày 26/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, cản trở người đang thi hành công vụ, làm giảm hiệu lực quản lý trật tự an toàn giao thông tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xa hội. Hành vi này đã cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 330 BLHS. Tại khoản 1 Điều 330 của BLHS quy định: "Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo Chang A S về tội “ Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Chang A S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo gây ra.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, gây nguy hại không lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra là cần thiết, để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm về trật tự quản lý hành chính nói riêng trên địa bàn.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Chang A S từ nhỏ sống cùng với gia đình, học hết lớp 9/12; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bản thân bị cáo là một thanh niên, có nhận thức pháp luật, lẽ ra bị cáo phải là người chấp hành đúng pháp luật, nhưng do thiếu ý thức tu dưỡng đạo đức, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, vì vậy cần phải áp dụng một hình phạt phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã phối hợp với gia đình đã tự nguyện bồi thường cho ông Lường Văn L và ông Lường Văn L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Nên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của BLHS năm 2015. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định Điều 52 của BLHS năm 2015.
Đối với hành vi Chang A S sử dụng xe mô tô gây thương tích 06% cho ông Lường Văn L, ông Lường Văn L không yêu cầu xử lý. Do vậy hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Trách nhiệm dân sự:
- Ông Đinh Tiên H, Poòng Trường G, Cà Xuân C, Triệu Tiến M, Vũ Hồng Tu, Trần Đình V, Nguyễn Văn Tr không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và không có đề nghị gì.
- Bị cáo gây tổn hại 06% sức khỏe cho ông Lường Văn L. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo phối hợp với gia đình đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho ông Lường Văn L số tiền là 10.000.000đ. Ông Lường Văn L đã nhận đủ số tiền 10.000.000 đồng không yêu cầu đề nghị gì thêm đối với bị cáo. Việc thỏa thuận giữa bị cáo, gia đình bị cáo với ông Lường Văn L là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 điều 47 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về việc xử lý vật chứng của vụ án.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Chang A S phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Chang A S phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Chang A S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (30/4/2022).
2. Trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và gia đình bị cáo với ông Lường Văn L (Ông Lường Văn L đã nhận đủ số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm).
3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 điều 47 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô Honda, loại xe Wave màu đen bạc, BKS 27X1 – 001.40, số máy HC12E-2881984, số khung RLHHC120XBY081980, xe đã cũ qua sử dụng, bị dập vỡ và trầy xước nhiều chỗ.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
+ 01 củ đèn xe máy Honda loại Wave α
+ 01 củ đèn xi nhan phía trước xe Honda loại Wave α
+ 01 ốp củ đèn pha bằng cao su màu đen có ký hiệu STANLEY 22300
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu bạc có chữ CITY FASHION MOVER dài 29 cm, đầu rộng nhất 9,5 cm
+ 01 chiếc mũ bảo hiểm nửa đầu bằng nhựa màu đen
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu đen không rõ hình dạng có kích thước 22cm x 13 cm x 0,2 cm
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu đen không rõ hình dạng có kích thước 13cm x 3,8 cm x 0,2 cm
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu đen không rõ hình dạng có kích thước 10cm x 3,8 cm x 0,2 cm
+ 01 mảnh nhựa vỡ màu đen không rõ hình dạng có kích thước 6,5cm x 1,4 cm x 0,2 cm
+ 01 bóng đèn pha xe máy bằng kim loại sáng màu hình trụ tròn dài 08 cm
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 27/7/2022).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Chang A S phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/8/2022).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - VKSND h.Mường Ảng; - CQĐT Công an h.Mường Ảng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Ảng; - Chi cục THADS h.Mường Ảng; - Bị cáo; đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Phƣơng |