vanban.org

Bản án 65/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/8/2022. Xử phạt bị cáo Dương Văn K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn K và Nguyễn Văn T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HS-ST
Ngày 18-11-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Nhơn và bà Phan Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chính, Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại phòng xét xử - Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2022/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Dƣơng Văn K; sinh năm 1991; nơi sinh tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Bon J , xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn P (đã chết) và con bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1954; có vợ là chị Nguyễn Thị Hồng V (đã ly hôn) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2015.

Về nhân thân: Năm 2009, bị Công an huyện T xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2012/HSST ngày 31/5/2012, Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích). Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2016/HSST ngày 28/4/2016, Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích). Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2017/HSST ngày 30/3/2017, Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2022 - có mặt.

2. Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Tý, T Não); sinh năm 1997; nơi sinh tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Tổ 2, khu phố 3, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới Tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; có vợ là chị Võ Thị N, sinh năm 1998; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2018;

Tiền sự: Không; tiền án 02 tiền án cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2019/HSST ngày 09/01/2019, Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2020/HSST ngày 28/4/2020, Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Phước xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí (chưa được xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12-8-2022 - có mặt.

Bị hại: Anh Lê Thanh T (T2), sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn 6, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Tài chính TNHH H.

Địa chỉ: Lầu 8, 9, 10 Toà nhà G, số 24C P, Phường 6, Quận B, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N, chức vụ Tổng giám đốc Công ty Tài chính TNHH H.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Gia H, chức vụ Trưởng phòng thu hồi nợ gián tiếp của Công ty Tài chính TNHH H.

Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Nguyễn Xuân A là nhân viên phòng thu hồi nợ gián tiếp của Công ty Tài chính TNHH H - có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Dương Văn K, Nguyễn Văn T bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 09/8/2022, Dương Văn K rủ Nguyễn Văn T đi từ phòng trọ của T tại: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước về nhà K ở Bon J, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông chơi. K điều khiển xe mô tô Exciter gắn biển kiểm soát 48K1-163.40 chở T. Khoảng 18 giờ cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc thôn 6, xã Khuyện Đ, tỉnh Đắk Nông, K và T phát hiện trước sân nhà anh Lê Thanh T (SN 1986, trú tại thôn 6, xã K, huyện Đ) dựng một chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đỏ - đen, biển kiểm soát 48H1-017.11, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. K dừng xe trước cổng, còn T đi bộ vào sân nhà anh T2 và tiếp cận chiếc xe mô tô trên. T dùng kéo cạy ổ khóa nhưng không được. Lúc này, thấy trên yên chiếc xe Dream gần đó có một chiếc chìa khóa xe nên T dùng mở khóa xe rồi đẩy xe ra cổng, điều khiển về hướng tỉnh Bình Phước, K điều khiển xe Exciter theo sau. Khi đến đoạn đường vào chùa P thuộc thôn 6, xã Đ, huyện Đ, T điều khiển xe trộm được rẽ vào và dựng bên đường. Sau đó, K tháo biển kiểm soát 48H1-017.11 của chiếc xe mới trộm cắp được, rồi gắn biển kiểm soát 93B1-342.96 lấy trong cốp xe Exciter của K vào. T mở cốp xe chiếc xe mô tô trên thì thấy bên trong cốp có 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Thanh T, 01 bảo hiểm y tế và 01 giấy phép lái xe mang tên Võ Thị H. T nói cho K biết rồi cất các giấy tờ trên vào túi quần, sau đó tiếp tục điều khiển xe mô tô về khu vực tỉnh Bình Phước. Khi đi đến chợ thuộc xã P, huyện B, tỉnh B, chiếc xe mô tô Airblade gần hết xăng nên K dẫn T vào nhà chị Nguyễn Thị Hồng H (H2) (sinh năm 1989, trú tại thôn S, xã P, huyện B - cháu của K) gửi xe. Đến nơi, T nói dối chị Hạnh chiếc xe trên bị hết nhớt nên nhờ gửi lại, sau đó xin số điện thoại chị H2 rồi chụp ảnh chiếc xe để về rao bán. Sau đó, K chở T về ngủ tại phòng trọ của T.

Sáng ngày 10/8/2022, K lấy chiếc biển số 48H1-017.11 của chiếc xe trộm được giấu dưới hòn đá trước phòng trọ của T. Ngày 11/8/2022, T rao bán chiếc xe Airblade cho đối tượng tên Hoàng (không rõ nhân thân, lai lịch) và nói là bán xe dùm cho người khác. Hai bên thống nhất giá cả và Hoàng yêu cầu xem xe trước khi mua bán nên T rủ K cùng nhau lên nhà chị H2 để lấy xe. T mang theo một vam phá khóa và một ống điếu chữ L để phá khóa xe. Khi đến nhà chị H2 thì bị Công an huyện Đắk R’Lấp bắt giữ cùng tang vật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KLHDĐG ngày 16/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đắk R’Lấp kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA loại AIRBLADE màu sơn đỏ-đen số máy F27E-1404443, số khung 2707BY340304 đã qua sử dụng, có giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 6.300.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 20/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, công an tỉnh Đắk Nông kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter gắn biển kiểm soát 48K1-163.40 có số khung nguyên thủy là RLCUG1210NY070943, số máy nguyên thủy là G3M5E – 138808; biển kiểm soát xe mô tô 48K1-163.40 do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp; biển kiểm soát xe mô tô BKS 93B1-342.96 không phải do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Thanh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đề cập xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 75/CT-VKS-ĐL ngày 28-10-2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Dương Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Dương Văn K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 ống điếu hình chữ L, 01 vam phá khóa, 01 biển số 93B1- 342.96; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động Samsung J6 màu đỏ.

- Đề nghị Giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu sơn xám, biển kiểm soát 48K1-163.40 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp phối hợp với Công ty Tài chính TNHH H xử lý bán đấu giá tài sản để Công ty Tài chính TNHH H thu hồi nợ, phần giá trị còn lại (nếu có) thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Thanh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng, thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp truy tố Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Dương Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, Toà án đã triệu tập hợp bị hại anh Lê Thanh T tham gia phiên tòa nhưng anh T2 có đơn xin vắng mặt. Anh T2 đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên toà, Người đại diện theo uỷ quyền lại của Công ty Tài chính TNHH H xác định: Ngày 05/3/2022, Dương Văn K và Công ty ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp số 2W023138044, theo hợp đồng thì K vay vốn của Công ty số tiền 46.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mỗi tháng phải trả 3.259.396 đồng để K mua xe Yamaha Exciter biển kiểm soát 48K1-163.40. Tuy nhiên từ ngày vay đến nay K không trả gốc và lãi như thoả thuận. Nay Công ty yêu cầu Toà án giao chiếc xe trên cho Công ty để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán. Nếu không thì giao cho Cho Cục Thi hành án dân sự phát mại tài sản và ưu tiên thanh toán nợ cho Công ty.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đắk R’lấp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.

. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2022, Dương Văn K điều khiển xe mô tô Exciter gắn biển kiểm soát 48K1-163.40 chở Nguyễn Văn T đến thôn 6, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông trộm cắp 01 xe mô tô Honda, loại Airblade màu đỏ - đen, biển kiểm soát 48H1-017.11 của anh Lê Thanh T. Ngày 11/8/2022, T rao bán chiếc xe Airblade cho đối tượng tên Hoàng (không rõ nhân thân, lai lịch) và nói là bán xe dùm cho người khác, khi đang giao dịch thì bị Công an huyện Đắk R’lấp bắt giữ cùng tang vật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KLHDĐG ngày 16/8/2022, của Hội đồng định giá tài sản huyện Đắk R’Lấp kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA loại AIRBLADE màu sơn đỏ-đen số máy F27E-1404443, số khung 2707BY340304 đã qua sử dụng, có giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 6.300.000 đồng.

Do đó, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Dương Văn K phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng không thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)…;

…

g) Tái phạm nguy hiểm.”

…

. Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức rằng hành vi của mình là vi phạm pháp luật; xâm phạm tài sản của người khác; làm mất trật tự an toàn xã hội; bị toàn xã hội lên án nhưng do ý thức coi thường pháp luật, vì mục đích để có tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với bị cáo Dương Văn K có nhân thân xấu cụ thể: Năm 2009, bị Công an huyện Tuy Đức xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2012/HSST ngày 31/5/2012, Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2016/HSST ngày 28/4/2016, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2017/HSST ngày 30/3/2017, Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T đã có 02 tiền án cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2019/HSST ngày 09/01/2019, Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2020/HSST ngày 28/4/2020, Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp làm rõ ngày 01/8/2022, Dương Văn K và Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 29/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra, giải quyết theo quy định.

Nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm mà các bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Tình tiết định khung hình phạt: Tại bản án số 26/2020 ngày 28/4/2020, của Toà án nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Phước đã áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm đối với Nguyễn Văn T, khi chưa được xoá án tích thì ngày 09/8/2022, bị cáo T lại cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên hành vi của bị cáo T bị áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Dương Văn K, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo K thuộc diện hộ nghèo, đông con và có một con bị tật nguyền bẩm sinh có xác nhận của Chính quyền địa phương nên được áp dụng thêm tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Thanh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình.

Tịch thu, tiêu hủy 01 ống điếu hình chữ L, 01 vam phá khóa, 01 biển số 93B1-342.96; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động Samsung J6 màu đỏ.

Giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu sơn xám, biển kiểm soát 48K1-163.40 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp phố hợp với Công ty Tài chính TNHH H xử lý bán đấu giá tài sản để Công ty Tài chính TNHH H thu hồi nợ, phần giá trị còn lại (nếu có) thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

. Đối với hành vi cất giấu tài sản trộm cắp của chị Nguyễn Thị Hồng H, do chị H2 không biết đây là tài sản trộm cắp nên không đề cập xử lý.

Đối với hành vi sử dụng biển số 93B1-342.96 là biển số giả không phải do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, Dương Văn K nhặt được bên lề đường ở xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước và không biết đây là biển số giả nên không đề cập xử lý.

. Xét quan điểm và đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với các bị cáo là có phần chưa nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt cao hơn.

. Về án phí: Buộc Nguyễn Văn T, Dương Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Văn K.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/8/2022.

Xử phạt bị cáo Dương Văn K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/8/2022.

2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 ống điếu hình chữ L, 01 vam phá khóa, 01 biển số 93B1- 342.96; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động Samsung J6 màu đỏ (có đặc điểm như trong biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đắk R’Lấp với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông).

Giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu sơn xám, biển kiểm soát 48K1-163.40 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp phố hợp với Công ty Tài chính TNHH H xử lý bán đấu giá tài sản để Công ty Tài chính TNHH H thu hồi nợ, phần giá trị còn lại (nếu có) thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Văn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ