vanban.org

Bản án 65/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 17/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh N "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HS-ST
Ngày 17 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Xuân Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Dương Quốc Phòng và bà Nguyễn Thị Hải.

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2022/HSST ngày 21/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2022/QĐXXST - HS ngày 03/11/2022, đối với bị cáo: Đinh N, sinh ngày 11 tháng 10 tháng 1980 tại Bố Trạch, Quảng Bình; nơi cư trú: bản C, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: lớp 01/12; dân tộc: Bru Vân Kiều; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Nh (đã chết) và bà Y C; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh N: bà Lê Hoàng A - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Bình; có mặt.

- Bị hại: anh Đinh N1, sinh năm 1994; nơi cư trú: bản C, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Đinh K, sinh năm 1990; nơi cư trú: bản C, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

+ Anh Y, sinh năm 1990; nơi cư trú: bản C, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 13/4/2022, Đinh N và Đinh N1 ngồi nhậu với nhau tại nhà Đinh V ở bản C. Quá trình ăn nhậu Đinh N và Đinh N1 nảy sinh mâu thuẫn, Đinh N bỏ về nhà mình, còn Đinh N1 đi chơi xung quanh bản. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Đinh N gọi Đinh N1 đến nhà của Đinh N. Đinh N1 vừa đến cửa nhà Đinh N thì Đinh N cầm một con dao dài 41cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm, cán bằng gỗ dài 14cm) chém một nhát từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong trúng vào phần môi trên bên trái của Đinh N1 gây một vết rách da dài 3cm, sâu 01cm và gãy 3 cái răng ở hàm trên bên trái. Sau khi bị chém, Đinh N1 bỏ chạy về nhà nhờ Đinh K đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã T đến ngày 20/4/2022 thì ra viện.

Theo Bản kết luận giám định pháp y số: 113/TgT ngày 26/7/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Hà Tĩnh: Sẹo vết thương môi trên bên trái, kích thước 2,3cm x 0,3cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%; gãy răng 22, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; gãy răng 23, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; gãy răng 24, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 09%.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm: 01 con dao dài 41cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm, cán bằng gỗ dài 14cm).

Tại Cáo trạng số: 67/CT-VKSBT ngày 17 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố bị cáo Đinh N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt Đinh N từ 07 đến 09 tháng tù.

- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 41cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo nhất trí tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo là người dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, hạn chế về khả năng nhận thức; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, qua đó để giảm nhẹ hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái, nguy hiểm cho xã hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đinh N đều thống nhất khai nhận: Do có mâu thuẫn trong cuộc rượu từ buổi sáng, khoảng 15 giờ ngày 13/4/2022, Đinh N gọi Đinh N1 đến nhà của mình, tại đây, Đinh N đã cầm con dao có chiều dài 41cm chém một nhát từ trên xuống trúng vào phần môi của Đinh N1 gây thương tích cho Đinh N1. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, biên bản xem xét dấu vết thân thể bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; theo Kết luận giám định pháp y số 113/TgT ngày 26/7/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Hà Tĩnh thì tỷ lệ tổn thương cơ thể mà Đinh N gây ra cho Đinh N1 là 09%, nhưng khi gây án, bị cáo đã dùng con dao là hung khí nguy hiểm, vì vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định, bị cáo Đinh N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra trong vụ án này thấy rằng: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ khả năng để nhận thức được việc dùng dao chém gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật và gây ảnh hướng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, vừa xâm phạm trực tiếp đến thân thể, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, vừa thể hiện ý thức coi thường pháp luật, thích sử dụng vũ lực để xử lý các mâu thuẫn trong cuộc sống. Vì vậy, cần xét xử nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần áp dụng hình phạt tù ở mức thấp nhất của khung hình phạt để cách ly bị cáo, nhằm có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở lại là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị hại Đinh N1 yêu cầu bị cáo Đinh N bồi thường thiệt hại, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với số tiền 3.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bị hại là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật, vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao dài 41cm. Xét đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước.

Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm s, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đinh N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

Phạt bị cáo Đinh N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng vụ án:

Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.

4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Đinh N phải bồi thường cho bị hại Đinh N1 chi phí điều trị thương tích, bù đắp tổn thất tinh thần và các chi phí khác với số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 để trả cho bên được thi hành án.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Đinh N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 17 tháng 11 năm 2022.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiện thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ