vanban.org

Bản án 65/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A được ly hôn với anh B.

Về con chung: 1 Giao con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 06/9/2008 và cháu Nguyễn Quốc T, ngày 07/4/2013 cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Cháu T1 và cháu T hiện đang sống cùng chị A nên được giữ nguyên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N - Anh Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A được ly hôn với anh B.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ R
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 03/8/2022
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn

Bà Cao Thị Mỹ Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 195/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 25, xã P, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh B, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 25, xã P, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị A trình bày: Chị A và anh B tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/8/2012, tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu. Anh chị có 02 con chung: Cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 07/4/2013 và cháu Nguyễn Minh T1, ngày 06/9/2008. Trong thời gian chung sống vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B không lo kinh tế gia đình, lo cho con mà thường xuyên uống rượu dù chị A đã khuyên can rất nhiều lần. Mặc dù được hai bên gia đình hoà giải, hàn gắn nhưng chị và anh B đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Do đó, chị A nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh B không còn hạnh phúc, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B. Về con chung: Khi ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh B dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh B.

Tại phiên toà chị A vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử những nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị A được ly hôn với anh B. Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 07/4/2013 và cháu Nguyễn Minh T1, ngày 06/9/2008 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. Anh B không phải chấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung do chị A không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặc ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị A và anh B tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/8/2012 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn anh B và nuôi con chung, đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh B hiện đang cư trú tại Ấp 25, xã P, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã R theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Bị đơn anh B đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân: Sau khi kết hôn hợp pháp, chị A và anh B sống với nhau hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh B không chăm lo gia đình, phát triển kinh tế mà thường xuyên uống rượu mặc dù đã được chị A khuyên can nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi. Do đó, năm 2020 chị A và anh B đã sống ly thân cho đến nay. Hiện nay chị A xác định vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị A đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với anh B.

Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án đã hòa giải để chị A và anh B đoàn tụ nhưng chị A cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh B. Mặc khác, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị A cương quyết xin ly hôn, giữa chị A và anh B cũng sống ly thân thời gian dài, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.

Về con chung: Chị A và anh B có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 07/4/2013 và cháu Nguyễn Minh T1, ngày 06/9/2008, khi ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ biên bản xác minh Trưởng ấp xác định hiện tại cháu T và cháu T1 sống cùng chị A, cả hai cháu được chị A cho đi học đầy đủ và hai cháu phát triễn bình thường. Cũng tại biên bản ghi nhận ý kiến của hai cháu ngày 01/7/2022, cháu T và cháu T1 đều có mong muốn được sống cùng chị A. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu T và cháu T1 đang sống cùng chị A, do đó để tránh làm sáo trộn đời sống và sự phát triển tâm sinh lý của cháu, cũng như mong muốn được sống cùng mẹ của các cháu. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao cháu T và cháu T1 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị A xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không có căn cứ xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị A phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A được ly hôn với anh B.

2. Về con chung:

2.1 Giao con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 06/9/2008 và cháu Nguyễn Quốc T, ngày 07/4/2013 cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Cháu T1 và cháu T hiện đang sống cùng chị A nên được giữ nguyên.

2.2 Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

2.3 Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị A không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị A có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Nguyễn Thị A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0004051, ngày 17/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ