- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 65/2022/HNGĐ-ST Ngày: 08-9-2022 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc Phượng;
2. Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri
Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông
Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm
2022 về việc " Tranh chấp ly hôn, nuôi con " theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 106/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn
phiên tòa số: 42/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thu H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ 44, khóm A, thị
trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ 44, khóm A, thị
trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Lê Thu H trình bày: Tôi và ông Võ Văn H tự tìm hiểu
nhau và được gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị
trấn B, huyện T, tỉnh An Giang ngày 19/12/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng sống
tại khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống do ông
H không lo cho gia đình mà chỉ sống cho bản thân. Sau đó, vợ chồng đi làm công
nhân ở thành phố Hồ chí Minh quá trình đó ông H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, tôi phát hiện ra sự việc nên tôi bỏ về B sinh sống từ năm 2019 đến nay, không còn liên lạc. Xét thấy, vợ chồng không còn tình cảm nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn H; Về con chung: Võ Hoài P, sinh ngày 06/12/1998 (đã trưởng thành) và Võ Hoài N, sinh ngày 09/11/2007. Tôi yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu cấp dưỡng; Tài sản chung: không có; nợ chung: không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Võ
Văn H đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa
án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên tống đạt thông báo thụ lý cho nguyên đơn và bị đơn còn trễ thời gian theo quy định; đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
xin ly hôn của bà Lê Thu H đối với ông Võ Văn H. Về con chung: Võ Hoài P, sinh ngày 06/12/1998 (đã trưởng thành) và Võ Hoài N, sinh ngày 09/11/2007 các con đều do bà H nuôi dưỡng và cháu N cũng có nguyện sống với mẹ, nên cần tiếp tục giao con chung cho bà H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng bà H không yêu cầu, nên không xem xét. Về tài sản chung: không có. Về nợ chung: không có. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Võ Văn H có đăng ký hộ khẩu và
thường trú tại: Tổ 44, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tư cách, sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông H đã được Tòa án
nhân dân huyện Tri Tôn triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H qua tìm hiểu, quen biết nhau và gia
đình hai bên có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B,
huyện T, tỉnh An Giang vào 19/12/2002 được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp
pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình.
Tại phiên tòa bà H xác định cả hai đã ly thân từ năm 2019 đến nay không
liên lạc, do quá trình sống chung ông H và bà H không có sự đồng cảm với nhau,
luôn xảy ra mâu thuẫn, ông H không làm tròn trách nhiệm với gia đình lại có quan
hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Tại biên bản xác minh ngày 09 tháng 8 năm
2022 tại Văn phòng khóm A xác định “...bà H và ông H có hộ khẩu thường trúc tại
khóm A, nhưng ít thấy ông H có mặt tại địa phương, thỉnh thoảng có về, còn vợ
chồng có mâu thuẫn hay không thì không rõ......”. Như vậy, thấy rằng bà H và ông
H không còn sống chung với nhau, cho thấy cuộc sống hôn nhân cả hai đã lâm vào
tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân
không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án hai lần triệu tập hoà giải
nhưng ông H không đến, cũng chứng minh rằng ông không quan tâm đến tình trạng
hôn nhân của vợ chồng, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thu H đối
với ông Võ Văn H.
Về con chung: Võ Hoài P, sinh ngày 06/12/1998 (đã trưởng thành và lao
động được) và Võ Hoài N, sinh ngày 09/11/2007. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay
cháu N đều do bà H nuôi dưỡng, cháu N cũng có nguyện sống với mẹ, nên cần giao
con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định pháp luật tại
khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu
cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Bà H khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự hôn
nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông H không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân
sự;
Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia
đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thu H đối với ông Võ Văn H.
Bà Lê Thu H được ly hôn với ông Võ Văn H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 366 ngày 19 tháng 12 năm 2002 của Ủy ban
nhân dân xã B (nay thị trấn B), huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Võ Hoài P, sinh ngày 06/12/1998 (đã trưởng thành và lao
động được) và Võ Hoài N, sinh ngày 09/11/2007. Giao cháu N cho bà H nuôi dưỡng. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H thực hiện
quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.
[3] Về tài sản chung: không có.
[4] Về nợ chung: Không có.
[5] Về án phí: Bà Lê Thu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008449 ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, bà H đã nộp đủ án phí. Ông H không phải chịu án phí.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh AG; - VKSND tỉnh AG; - VKSND h.Tri Tôn; - Chi cục THADS h.Tri Tôn; - UBND thị trấn Ba Chúc; - Các đương sư; - Lưu HS & VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Thúy Liễu |