vanban.org

Bản án 65/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 65/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08-9-2022
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọc Phượng;

2. Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri

Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông

Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm

2022 về việc " Tranh chấp ly hôn, nuôi con " theo quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 106/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn

phiên tòa số: 42/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022, giữa các đương

sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thu H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ 44, khóm A, thị

trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ 44, khóm A, thị

trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Lê Thu H trình bày: Tôi và ông Võ Văn H tự tìm hiểu

nhau và được gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị

trấn B, huyện T, tỉnh An Giang ngày 19/12/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng sống

tại khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống do ông

H không lo cho gia đình mà chỉ sống cho bản thân. Sau đó, vợ chồng đi làm công

nhân ở thành phố Hồ chí Minh quá trình đó ông H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, tôi phát hiện ra sự việc nên tôi bỏ về B sinh sống từ năm 2019 đến nay, không còn liên lạc. Xét thấy, vợ chồng không còn tình cảm nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn H; Về con chung: Võ Hoài P, sinh ngày 06/12/1998 (đã trưởng thành) và Võ Hoài N, sinh ngày 09/11/2007. Tôi yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu cấp dưỡng; Tài sản chung: không có; nợ chung: không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Võ

Văn H đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa

án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên tống đạt thông báo thụ lý cho nguyên đơn và bị đơn còn trễ thời gian theo quy định; đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu

xin ly hôn của bà Lê Thu H đối với ông Võ Văn H. Về con chung: Võ Hoài P, sinh ngày 06/12/1998 (đã trưởng thành) và Võ Hoài N, sinh ngày 09/11/2007 các con đều do bà H nuôi dưỡng và cháu N cũng có nguyện sống với mẹ, nên cần tiếp tục giao con chung cho bà H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng bà H không yêu cầu, nên không xem xét. Về tài sản chung: không có. Về nợ chung: không có. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả

tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Võ Văn H có đăng ký hộ khẩu và

thường trú tại: Tổ 44, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tư cách, sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông H đã được Tòa án

nhân dân huyện Tri Tôn triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H qua tìm hiểu, quen biết nhau và gia

đình hai bên có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B,

huyện T, tỉnh An Giang vào 19/12/2002 được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp

pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình.

Tại phiên tòa bà H xác định cả hai đã ly thân từ năm 2019 đến nay không

liên lạc, do quá trình sống chung ông H và bà H không có sự đồng cảm với nhau,

luôn xảy ra mâu thuẫn, ông H không làm tròn trách nhiệm với gia đình lại có quan

hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Tại biên bản xác minh ngày 09 tháng 8 năm

2022 tại Văn phòng khóm A xác định “...bà H và ông H có hộ khẩu thường trúc tại

khóm A, nhưng ít thấy ông H có mặt tại địa phương, thỉnh thoảng có về, còn vợ

chồng có mâu thuẫn hay không thì không rõ......”. Như vậy, thấy rằng bà H và ông

H không còn sống chung với nhau, cho thấy cuộc sống hôn nhân cả hai đã lâm vào

tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân

không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án hai lần triệu tập hoà giải

nhưng ông H không đến, cũng chứng minh rằng ông không quan tâm đến tình trạng

hôn nhân của vợ chồng, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật

hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thu H đối

với ông Võ Văn H.

Về con chung: Võ Hoài P, sinh ngày 06/12/1998 (đã trưởng thành và lao

động được) và Võ Hoài N, sinh ngày 09/11/2007. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay

cháu N đều do bà H nuôi dưỡng, cháu N cũng có nguyện sống với mẹ, nên cần giao

con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định pháp luật tại

khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu

cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà H khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự hôn

nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân

sự;

Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia

đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thu H đối với ông Võ Văn H.

Bà Lê Thu H được ly hôn với ông Võ Văn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 366 ngày 19 tháng 12 năm 2002 của Ủy ban

nhân dân xã B (nay thị trấn B), huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Võ Hoài P, sinh ngày 06/12/1998 (đã trưởng thành và lao

động được) và Võ Hoài N, sinh ngày 09/11/2007. Giao cháu N cho bà H nuôi dưỡng. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H thực hiện

quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.

[3] Về tài sản chung: không có.

[4] Về nợ chung: Không có.

[5] Về án phí: Bà Lê Thu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)

tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008449 ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, bà H đã nộp đủ án phí. Ông H không phải chịu án phí.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn

kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự./.

Cỡ chữ