vanban.org

Bản án 65/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị N. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị N được ly hôn với anh Hoàng Trung H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Thị Nhung - Hoàng Văn Hiếu"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26-8-2022
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
,

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Bùi Hoàng Sơn.

- Bà Nông Thị Thùy Trang.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Trường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2022/TLST-HN&GĐ, ngày 18 tháng 4 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị N, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Hoàng Trung H, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc nguyên đơn chị Vi Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị N và anh Hoàng Trung H có kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 16/5/2016 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk. Hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không cùng quan điểm sống, anh H không làm tròn trách nhiệm với gia đình. Mặc dù hai bên đã ngồi lại nói chuyện với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung. Nay nhận thấy không còn tình cảm với anh H nữa, nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về nuôi con chung: Chị N và anh Hoàng Trung H có với nhau 01 người con chung là cháu Hoàng Thu T, sinh ngày 02/02/2017. Nay ly hôn chị Vi Thị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôicháu T đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và các khoản nợ: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh H đều vắng mặt không có lý do, cũng không gửi ý kiến cho Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án về cơ bản là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho chị N ly hôn với anh H; cần giao con chung là Hoàng Thu T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi; Về việc cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung chị N không yêu cầu và anh H không có ý kiến cho Tòa án nên Tòa án không đề cập xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Chị Vi Thị N và Anh Hoàng Trung H là vợ chồng. Do mâu thuẫn trong quá trình chung sống, nên chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung và Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị N đề nghị không tiến hành hòa giải, anh H triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử anh H, Tòa án đã triệu tập đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; chị N đề nghị giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Chị Vi Thị N và anh Hoàng Trung H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 16/5/2016 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2017. Hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do lối sống của hai người không còn phù hợp với nhau. Nay nhận thấy chị N và anh H không còn yêu thương, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, nếu tiếp tục chung sống cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai người; thực tế hai người cũng đã ly thân với nhau. Vì vậy, để giải phóng sự ràng buộc giữa hai người cần cho chị N được ly hôn với anh H.

Về nuôi con chung: Chị N và anh H có với nhau 01 con chung là Hoàng Thu T, sinh ngày 02/02/2017. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T cho đến khi đủ 18 tuổi, hiện nay cháu T cũng đang ở với chị N. Vì vậy, để đảm bảo sự chăm sóc và phát triển về mọi mặt của cháu T cũng như khả năng nuôi dạy con của cả hai người, cần giao cháu T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và các khoản nợ: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập, xem xét.

Về án phí dân sự: Cần buộc chị N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị N được ly hôn với anh Hoàng Trung H.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hoàng Thu T, sinh ngày 02/02/2017 cho chị Vi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Trung H có quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vi Thị N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không đề cập, xem xét. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Vi Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét.

5. Về án phí dân sự: Chị Vi Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số: 60AA/2021/0000792 ngày 14/4/2022.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Vi Thị N và anh Hoàng Trung H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ