- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim N-Huỳnh Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim N và anh Huỳnh Văn T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16-9-2022 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh
2. Ông Đặng Thành Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐST - HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1998 (có mặt)
Trú tại: ấp T, xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Trú tại: ấp T, xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn T chung sống vào năm 2016, có đăng ký kết hôn vào năm 2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không thể hòa hợp, không có hạnh phúc, chị N đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống khoảng 05 tháng nay. Do không còn tình cảm, chị N yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Văn B, sinh ngày 14/01/2017, cháu đang sống với anh T. Chị N để anh T tiếp tục nuôi con, chị không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: không có
Tại biên bản hòa giải ngày 04/8/2022 anh Huỳnh Văn T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Kim N tổ chức lễ cưới năm 2016 và có đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, anh còn thương vợ không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Văn B, sinh ngày 14/01/2017, cháu đang sống với anh T. Anh T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn anh Huỳnh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Ư ư
Chị Nguyễn Thị Kim N và anh Huỳnh Văn T tự nguyện chung sống vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn, nên được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của chị N, vợ chồng chung sống không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Do tính tình không thể hòa hợp, không có hạnh phúc, chị N đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống khoảng 05 tháng nay. Anh T không đồng ý ly hôn vì cho rằng còn thương vợ, nhưng anh không có động thái nào để hàn gắn lại mối quan hệ. Tòa án đã triệu tập anh T để xét xử nhưng đã hai lần anh T vắng mặt, chứng tỏ anh đã bỏ mặc cuộc hôn nhân của anh. Điều đó thể hiện anh chị mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu ly hôn là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Quá trình sống chung chị N và anh T có 01 người con chung tên Huỳnh Văn B, sinh ngày 14/01/2017, là nam, hiện đang sống với anh T. Anh T yêu cầu nuôi con và chị N đồng ý để anh T nuôi con chung. Và qua xác minh thể hiện anh T có đủ điều kiện để nuôi con. Vì vậy Hội đồng xét xử giao con chung cho anh T nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con nên chị N chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không đặt ra giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim N và anh Huỳnh Văn T được ly hôn.
Về con chung: Giao cháu Huỳnh Văn B, sinh ngày 14/01/2017 cho anh Huỳnh Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu B tròn 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Kim N chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu là 300.000 đồng, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã đóng theo biên lai số 0010576 ngày 18 tháng 07 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị N đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND h. Châu Thành; - THA h. Châu Thành; UBND xã Đ, h. Châu Thành, t. Hậu Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Phan Ngô Huỳnh |