- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với chị Lê Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2022/DS-ST Ngày 16-5-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Thanh;
2. Bà Trần Thị Cúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 16 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý: 251/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1970. (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Chị Lê Thị D, sinh năm 1982. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 25/10/2021, đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện không ghi ngày tháng và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Vào năm 2020 chị có cho chị Lê Thị D vay nhiều lần cụ thể như sau:
+ Vào ngày 17/11/2020 (âl) vay 30.000.000 đồng.
+ Vào ngày 29/11/2020 (âl) vay 10.000.000 đồng.
+ Vào ngày 10/12/2020 (âl) vay 10.000.000 đồng.
+ Vào ngày 20/12/2020 (âl) vay 20.000.000 đồng.
Tổng cộng, chị cho chị Lê Thị D vay số tiền 70.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận ngày 29/01/2021 (âl) thì chị Lê Thị D phải trả cho chị đầy đủ số tiền vay. Khi cho vay không tính lãi suất và chị Lê Thị D có viết biên nhận và ký tên vay tiền.
Chị đã đòi nhiều lần nhưng đến nay phía chị Lê Thị D vẫn không trả.
Nay chị yêu cầu chị Lê Thị D phải trả cho chị số tiền nợ vay là 70.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và yêu cầu trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
- Bị đơn chị Lê Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị Lê Thị D không đến Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang làm việc và trình bày ý kiến của chị Trần Thị T về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án: Bị đơn chị Lê Thị D cư trú: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa chị Trần Thị T với chị Lê Thị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tòa án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn là chị Lê Thị D nhưng chị Lê Thị D vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Thị D.
- Nguyên đơn chị Trần Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị T.
Về nội dung vụ án: Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Lê Thị D trả số tiền vốn vay 70.000.000 đồng có cung cấp chứng cứ là các biên nhận vay tiền ngày 17/11/2020 (âl), 29/11/2020 (âl), 10/12/2020 (âl), 20/12/2020 (âl) để chứng minh. Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa bị đơn chị Lê Thị D vắng mặt và không có ý kiến bằng văn bản phản đối yêu cầu trên của nguyên đơn chị Trần Thị T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ Luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Hội đồng xét xử khẳng định bị đơn chị Lê Thị D có nợ nguyên đơn chị Trần Thị T số tiền vốn vay là 70.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T, buộc bị đơn chị Lê Thị D có trách nhiệm trả cho nguyên đơn chị Trần Thị T số tiền vốn vay 70.000.000 đồng, trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với các quy định tại các Điều 166, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Chị Lê Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự, Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với chị Lê Thị D.
Buộc chị Lê Thị D có nghĩa vụ trả cho chị Trần Thị T số tiền 70.000.000 đồng, trả 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
- Chị Lê Thị D phải chịu 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn lại cho chị Trần Thị T số tiền 1.750.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001353 ngày 09/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cai Lậy; - CCTHADS huyện Cai Lậy; - Các đương sự; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Kim Thúy |