- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Tuấn V (Cu L) 05 (Năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18-12-2020 nhưng khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09-11-2020 đến ngày 18-11-2020.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng; Điều 323 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2021/HS-ST Ngày 20-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hoàng Sơn.
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Trần Tuấn V (tên gọi khác: Cu L); sinh năm: 1994 tại: tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú: ấp Tân D, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Con ông: Trần Thế C, sinh năm: 1956 (đã chết) và bà Bùi Thị L, sinh năm: 1964; Anh ruột: Có 01 người (là bị cáo Trần Minh Ph trong vụ án); Vợ: Nguyễn Thị Yến Nh, sinh năm: 1999 ngụ ấp Lai Khê, xã Lai Hưng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Dương; Con: Chưa có (Tại phiên tòa bị cáo trình bày có con sinh vào tháng 5-2021; Tiền án: Bản án số 21/2018/HS-ST ngày 03-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 02 năm 06 tháng, chấp hành nộp tiền án phí hình sự ngày 26-6-2018, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02-01-2020 tại Trại giam Tống Lê Chân. Hiện chưa được xoá án tích. Tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09-11-2020 đến ngày 18-11-2020 trả tự do, đến ngày 18-12-2020 bị bắt tạm giam cho đến nay.
2. Đoàn Văn Th (tên gọi khác: Nh), sinh năm: 1994 tại: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp Tân Tr, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Con ông Đoàn Th2 L, sinh năm: 1971 và bà Đàm Thị L, sinh năm: 1969; Anh, em ruột: Có 02 người; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09-11-2020 đến ngày 18-11-2020 trả tự do, đến ngày 18-12-2020 bị bắt tạm giam cho đến nay.
3. Nguyễn Hoài Th1, sinh năm: 2000 tại: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp Đông Ti, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có. Con ông: Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1979 và bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm: 1977; Chị, em ruột: Có 02 người; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14-5-2021 cho đến nay.
4. Trần Minh Ph, sinh năm: 1990 tại: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp Tân D, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Con ông Trần Thế C, sinh năm: 1956 (đã chết) và bà Bùi Thị L, sinh năm: 1964; Em ruột: Có 01 người (là bị cáo Trần Tuấn V trong vụ án); Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị hại:
1. Ông Huỳnh Văn Th2, sinh năm: 1963 – vắng mặt;
Ngụ: ấp Nhà Lầu 1, xã Ninh Th A, huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu.
2. Ông Nguyễn Xuân A, sinh năm: 1983 – vắng mặt;
Ngụ: ấp 1, xã Tắc V, Th phố Cà M, tỉnh Cà Mau;
3. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1979 – vắng mặt;
Ngụ: ấp Phước Trường, xã Phước L, huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.
4. Bà Trần Thị L, sinh năm: 1979 – vắng mặt;
Ngụ: ấp B12E/6/3L ấp 2, xã Vĩnh L B, huyện Bình Ch, Th phố Hồ Chí Minh;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Bùi Thị L, sinh năm 1964 – vắng mặt.
Ngụ hiện nay: ấp Tân D, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trường Giang, Đặng Th Rừng là người đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu và một số tỉnh, Th phố khác sau đó mang bán cho nhiều người để hưởng lợi.
Khoảng đầu tháng 10-2020, Trần Tuấn V quen biết với Giang thông qua mạng xã hội Zalo, biết Giang có xe mô tô do trộm cắp mà có nên V đặt vấn đề và nhiều lần mua xe mô tô có nguồn gốc do trộm cắp của Giang về bán lại cho người tên Nôi ở Campuchia (chưa rõ tên, địa chỉ) lấy tiền lời tiêu xài cá nhân. Vào ngày 05-11-2020, Giang liên lạc gửi hình ảnh qua Zalo bán xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ gắn biển số: 94F1-326.75 do trộm cắp mà có với giá 8.000.000 đồng thì V đồng ý. Sau đó, Giang gửi xe mô tô trên cho xe khách “Tân Th2 Nhàn” vận chuyển đến địa phận huyện Tân Châu cho V mang về cất giấu tại nhà.
Vào ngày 06-11-2020, Giang tiếp tục liên lạc gửi hình ảnh 02 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX do trộm cắp mà có qua Zalo cho V xem, V đồng ý mua 01 chiếc xe với số tiền là 5.000.000 đồng và 9.000.000 đồng. Sau đó, V liên lạc với Nôi thì Nôi đồng ý mua 01 xe với giá tiền là 360 USD và 440 USD. Giang gửi 02 xe mô tô trên xe khách “Tân Th2 Nhàn” và cho số điện thoại của lơ xe cho V liên lạc nhận xe mô tô.
Khoảng 18 giờ ngày 07-11-2020, V điện thoại cho anh Quách Văn Quý, sinh năm: 1993 ngụ ấp Lợi Đông, xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (Lơ xe của xe khách “Tân Th2 Nhàn” mang biển số 70B-017.72) để hẹn nhận 02 xe mô tô trên tại tiệm rửa xe “Dũng” thuộc địa phận ấp Hội Tân, xã Tân Hội, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh nhưng anh Quý không biết 02 xe mô tô trên là xe do trộm cắp mà có. Lúc này, V thuê Đoàn Văn Th cùng V đến tiệm rửa xe “Dũng” để vận chuyển 02 xe mô tô có nguồn gốc do trộm mà có với tiền công là 200.000 đồng/1 xe, Th biết rõ 02 xe mô tô trên có nguồn gốc do trộm cắp mà có, do đã nhiều lần vận chuyển thuê xe mô tô có nguồn gốc do trộm cắp mà có cho Vnên đồng ý. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Th cùng với V đến tiệm rửa xe “Dũng”, được anh Quý giao xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX FI màu đỏ đen gắn biền số: 69M1-149.92 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ gắn biển số: 94D1-511.54, khi V và Th chuẩn bị vận chuyển xe mô tô đi tiêu thụ thì bị phát hiện thu giữ.
Ngoài lần thực hiện hành vi nêu trên, V còn thỏa thuận với Nguyễn Hoài Th1 để Th2 vận chuyển xe mô tô có nguồn gốc do trộm cắp mà có, do V mua của Giang từ khu vực bến xe An Sương - Th phố Hồ Chí Minh về huyện Tân Châu, với tiền công là 1.000.000 đồng/1 xe để giao cho V thì Th2 đồng ý. Từ tháng 10-2020 đến tháng 11-2020, Th2 đã vận chuyển 05 xe mô tô có nguồn gốc do trộm cắp mà có cho V từ bến xe An Sương về đến nhà do Th2 cùng Phan Văn An, sinh năm: 1999 thuê trọ ở ấp Tân D, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giao lại cho V với tiền công 1.000.000 đồng/1 xe và vận chuyển 01 xe mô tô có nguồn gốc do trộm cắp mà có cho V từ bến xe Tân H, xã Tân H, huyện Tân Châu đến nhà của Th2 thuê ở trọ với tiền công là 50.000đồng/l xe. Tại nơi ở của Th2, V tháo các biển số của các xe mô tô có gắn biển số 71B2-732.94, 68N1-256.21, 93B1-343.20, 60F1-300.00, 70H1-286.89 và 67L2-281.16, sau đó thuê Th cùng vận chuyển đến khu vực biên giới xã Tân H, huyện Tân Châu để bán cho Nôi.
Khoảng cuối tháng 10-2020, V thấy Trần Minh Ph (anh ruột của V) không có xe mô tô để làm phương tiện đi lại, nên V đưa xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen - trắng, biển số: 63B8-107.76 (Không phải biển số thật của xe), có số khung: RTCE55P10DY231136, số máy: 55P1-231108 cho Ph sử dụng và nói cho Ph biết nguồn gốc xe mô tô trên là do người khác trộm cắp bán lại cho V, nhưng Ph vẫn sử dụng làm phương tiện đi lại. Vào ngày 01-11-2020, V kêu Ph chở đến bến xe khách Tân H, xã Tân H, huyện Tân Châu để vận chuyển xe mô tô mua của người khác do trộm cắp mà có về nhà Ph để bán lấy tiền tiêu xài thì Ph đồng ý. Sau đó, Ph điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 63B8-107.76 chở V đến bến xe Tân Hà lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future, màu đỏ trắng, biển số 94D1-420.59, do xe mô tô không có chìa khóa nên Ph dùng chân đẩy V ngồi trên xe mô tô biển số 94D1-420.59 về nhà cất giấu. Sau đó, V mang xe đi bán.
Trong quá trình V mang xe mô tô bán cho Nôi, có 02 lần V thuê Lê Văn Trung, sinh năm 1981 ngụ ấp Đông Ti, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là người cạo mủ cao su ở khu vực cột mốc 104 giáp biên giới Việt Nam - Campuchia canh đường lực lượng Biên phòng để V điều khiển xe mô tô đến khu vực giáp biên giới Campuchia với số tiền là 100.000 đồng/1 lần nhưng không nói xe do trộm cắp mà có.
Kết quả xác minh thể hiện:
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI, màu đỏ đen, gắn biển số: 69M1-149.92, số máy: IA52E-0058471, số khung: RLHJA3851KY022807 của ông Huỳnh Văn Th2, sinh năm: 1963 ngụ ấp Nhà Lầu 1, xã Ninh Th A, huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu bị mất trộm vào ngày 06-11-2020, tại nhà ông Thủ.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, gắn biển số: 94D1-511.54, số máy: JA31E-0428227, số khung: RLHJA3129EY071161 là của anh Nguyễn Xuân A, sinh năm: 1983 ngụ ấp 1, xã Tắc V, Th phố Cà M, tỉnh Cà Mau bị mất trộm vào ngày 27-10-2020 tại địa chỉ trên.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, gắn biển số: 94Fl-326.75, số máy: JA39E1451283, số khung: RLHJA3918LY113375 là của anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1979 ngụ ấp Phuớc Tr, xã Phước L, huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu bị mất trộm vào ngày 05-11-2020 tại nhà anh.
- Xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen trắng, gắn Biển số 63B8- 107.76, số khung: RLCE55P10DY231136, số máy: 55P1-231108 là của bà Trần Thị L, sinh năm: 1979 ngụ ấp B12E/6/3L ấp 2, xã Vĩnh L B, huyện Bình Ch, Th phố Hồ Chí Minh bị mất trộm vào ngày 02-9-2020 tại nhà bà Loan.
- Biển số 94E1-085.44 của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ
- đen -bạc, do ông Nguyễn Văn U, sinh năm: 1974 ngụ ấp Bình Th, xã Vĩnh Th2, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu sở hữu bị mất trộm vào ngày 31-10-2020 tại nhà ông Út.
- Biển số 94K1-988.89 của xe mô tô Honda Blade màu xanh đen, do Phan VKhang, sinh năm: 1999 ngụ ấp 19, xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu đứng tên sở hữu, bị mất trộm vào ngày 01-11-2020 tại nhà anh Khang.
- Biển số 94K1-533.33 của xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ - đen - bạc, do bà Nguyễn Thị Thịnh, sinh năm: 1982 ngụ ấp Đồng Lớn 2, xã Vĩnh Mỹ B, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu đứng tên sở hữu bị mất trộm vào ngày 01-11-2020 tại nhà bà Thịnh.
- Biển số 50N2-004.07 của xe mô tô do Nguyễn Hoàng Hải có địa chỉ số 87 đường số 14, phường Bình Hưng Hòa A, Quận Bình Tân, Th phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an Quận Bình Tân xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời.
- Biển số 73G1-007.80 của xe mô tô do Nguyễn Văn Hùng có địa chỉ thôn Xuân Dục, xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Châu đã ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời.
- Biển số 59N1-030.26 của xe mô tô do Nguyễn Lê Hoàng Th2 có địa chỉ ngụ 118/18/45 Liên khu 5-6, phường Bình Hưng Hòa B, Quận Bình Tân, Th phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Châu đã ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an Quận Bình Tân xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời.
- Biển số 83P1-785.72 của xe mô tô do chị Trần Tuyết Thảo, sinh năm: 1984 ngụ ấp Ngãi Hòa, thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đứng tên chủ sở hữu. Chị Thảo đã bán xe mô tô trên cho người không rõ tên, địa chỉ nên không tiến hành làm việc được bị hại.
- Biển số 84G1-495.65 của xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, màu đen đỏ, do anh Thạch Đời, sinh năm: 1973 ngụ ấp Cà Tốc, xã Hàm Giang, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh đứng tên chủ sở hữu và bị mất trộm vào ngày 18-10-2020 tại ấp Chợ, xã Hàm Giang, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Biển số 94E1-402.31 của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, do anh Nguyễn Văn Phương, sinh năm: 2001 ngụ ấp Bình Thạnh, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu sở hữu bị mất trộm vào ngày 13-10-2020 tại địa chỉ trên.
- Biển số 94D1-403.86 của xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu xanh đen do anh Võ Tuấn Thương, sinh năm: 1989 ngụ ấp 5, xã Ph Tân, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu bị mất trộm vào tháng 11-2020, tại địa chỉ trên.
- Biển số 68N1-256.21 của xe mô tô do anh Trần Văn Tưởng có địa chỉ ngụ ấp Kinh 1A, xã Tân Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đứng tên nhưng mua dùm cho cháu vợ là anh Nguyễn Hoàng Chơn, sinh năm: 1987 ngụ ấp Nhà Lầu 1, xã Ninh Thạnh Lợi A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu sở hữu. Hiện tại, anh Chơn không có ở địa phương nên chưa làm việc dược.
- Biển số 93B1-343.20 của xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave Alpha, màu xanh đen, do anh Lương Minh Phương, sinh năm: 1988 ngụ ấp 4, xã Minh Hưng, huyện Chơn Th, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bán xe mô tô trên cho người không rõ tên, địa chỉ nên không tiến hành làm việc được bị hại.
- Biển số 71B2-732.94 của xe mô tô do chị Lê Thị Lệ có địa chỉ ngụ ấp Thói Khương, xã Th Thới A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đứng tên chủ sở hữu nhưng giao cho con ruột là anh Văn Phước Duy, sinh năm: 1995 đi làm thuê ở Th phố Hồ Chí Minh đã bị mất trộm nhưng anh Duy không trình báo Công an.
- Biển số 60F1-300.00 của xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision, màu trắng do CTY TNHH MTV Nhật Thiên Ân có địa chỉ 180/3 KP8, phường Tân Biên, Th phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Anh Đỗ Quang Điền, sinh năm: 1989 ngụ 288D/4 khu phố 10, phường Tân Biên, Th phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai được công ty TNHH MTV Nhật Thiên Ân ủy quyền sử dụng, bị mất trộm ngày 14-10-2020, tại Th phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Biển số 67L2-281.16 là của xe mô tô do chị Dư Thị Thủy có địa chỉ ngụ ấp Bình Quới, xã Hòa An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đứng tên sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Châu đã tiến hành ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nhưng bà Thủy không có ở địa phương nên không tiến hành làm việc được.
- Biển sổ 70H1-286.89 của xe mô tô do bà Lê Thị Gái có địa chỉ ấp Suối Mây, xã Thạnh Bắc, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đứng tên sở hữu nhưng đã bán lại cho người khác không biết tên, địa chỉ nên không tiến hành làm việc được bị hại.
- Biển số 69M1-149.92 đã bị dán số “4” đè lên số “1”, biển số thật là: 69M1-119.92 là của xe mô tô do anh Hồ Tấn Pháp có địa chỉ ngụ số 270A đường Nguyễn Trãi, phường 9, Th phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đứng tên chủ sở hữu nhưng chưa làm việc được do anh Pháp không có ở địa phương.
- Biển số 94D1-511.54 là của xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đen do La Kim Út, sinh năm: 1980 ngụ khóm 1, phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu bị mất trộm vào cuối năm 2020, tại địa chỉ trên.
- Biển số 94F1-326.75 đã bị dán số “5” đè lên số “6”, biển số thật là 94F1-326.76 của xe mô tô do ông Huỳnh Văn Th2 bị mất trộm vào ngày 06-11-2020, tại nhà ông Thủ.
- Biển số 63B8-107.76 của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX do anh Nguyễn Trùng Vương, sinh năm: 1987 ngụ ấp Phú Nhuận, xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bán xe cho người khác không rõ tên, địa chỉ nên không tiến hành làm việc được bị hại.
- Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Biển số: 59D2-631.49 do Công ty TNHH Công Nghiệp Sài Gòn có địa chỉ 20/32 Hồ Đắc Di, phường Tây Thạnh, Quận Tân Phú, Th phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Châu đã tiến hành ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an Quận Tân Phú, hiện tại chưa nhận được kết quả trả lời.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Tuấn Vũ, Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Th1 và Trần Minh Ph đã Th khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Kết luận định giá số 42/KL-HĐĐG, ngày 18/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh kết luận như sau:
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI, màu đỏ đen, gắn biển số: 69M1-149.92, số máy: JA52E-0058471, số khung: RLHJA3851KY022807 tại thời điếm ngày 07-11-2020 có trị giá là 16.667.000 đồng.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, gắn biển số: 94F1-326.75, so máy: JA39E1451283, số khung: RLHJA3918LY113375 tại thời điểm ngày 07-11-2020 là 14.000.000 đồng.
Kết luận định giá số 04/KL-HĐĐG, ngày 13-01-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh kết luận như sau: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, gắn biển số: 94D1- 511.54, số máy: JA31E-0428227, số khung: RLHJA3129EY071161 tại thời điểm ngày 07-11-2020 có trị giá là 9.000.000 đồng.
Kết luận định giá số 24/KL-HĐĐG ngày 27-4-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tổ tụng hình sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh kết luận như sau:
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ - đen - bạc, mang biển số: 94E1-085.44, có số khung: 5324CY053540, số máy: C54E-0096914 tại thời điểm ngày 31-10-2020 có trị giá là 13.000.000 đồng.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu xanh - đen - bạc, mang biển số: 94D1-403.86, có số khung: RLHJA3909HY685022, số máy; JA39E0664073 tại thời điểm tháng 11-2020 có trị giá là 11.667.000 đồng.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu Đỏ - đen - bạc, mang biển số: 94K1 -533.33, có số khung: RLHIA3904HY072564, số máy: JA39E0072623 tại thời điểm ngày 01-11-2020 có trị giá là 11.333.000 đồng.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu xanh đen, mang biển số: 94K1-988.89, có số khung: RLHJA3649KY049084, số máy: JA36E0834794 tại thời điểm ngày 01-11-2020 có trị giá là 6.333.000 đồng.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, mang biển số: 60Fl-300.00, có số khung: 314DY-432882, số máy: F33E-0513015 tại thòi điểm ngày 13-10-2020 có trị giá là 14.333.000 đồng.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen đỏ, mang biển số: 84G1-495.65, có số khung: 3824GY159141, số máy: JA38E0343431 tại thời điểm ngày 18-10-2020 có trị giá là 11.333.000 đồng.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, mang biển số: 94E1-402.31, có số khung: 3917KY322752, số máy: JA39E1187712 tại thời điểm ngày 13-10-2020 có trị giá là 12.333.000 đồng.
Kết luận định giá số 25/KL-HĐĐG ngày 10-5-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh kết luận:
- 01 (Xe) mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng - đen, có số khung: RLCE55P10DY231136, số máy: 55P1-231108 tại thời điểm ngày 02-9-2020 có trị giá là 13.000.000đ.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen - bạc, mang biển số: 94D1-511.54, có số khung: 3913LY157543, số máy: JA39E1495386 thời điểm ngày 12-10-2020 có trị giá là 14.333.000 đồng.
Kết luận giám định số 1813/KL-KTHS ngày 17-11-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu đỏ đen, có số khung: RLHJA3851KY022807, số máy: JA52E - 0058471, số khung và số máy không bị đục sửa.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, có số khung: RLHJA3918LY113375, số máy: JA39E - 1451283, số khung và số máy không bị đục sửa.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, có số khung: RLHJA3129EY071161, số máy: JA31E – 0428227, số khung và số máy không bị đục sửa.
Kết luận định giá số 559/KL-KTHS ngày 06-5-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng - đen, có số khung: RLCE55P10DY231136, số máy: 55P1-231108, số khung và số máy không bị đục sửa.
Vật chứng thu giữ: Có bản thống kê kèm theo.
Kê biên tài sản: Thửa đất số 50, diện tích 59m2 tại tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại khu phố 2, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh của Trần Tuấn V và Trần Minh Ph; riêng Đoàn Văn Th và Nguyễn Hoài Th1 không có tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Văn Th2, Nguyễn Văn H, Nguyễn Xuân A, Trần Thị L đã nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường. Đối với các bị hại khác, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu tiếp tục làm rõ xử lý trong vụ án Nguyễn Trường Giang cùng đồng phạm.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản nêu trên; các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi phạm tội, vật chứng thu giữ như nội dung cáo trạng đã nhận được.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSTC ngày 31-5-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần Tuấn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Th1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Minh Ph về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Tuấn V từ 05 (Năm) đến 06 (Sáu) năm tù giam;
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Th từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù giam;
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài Th1 từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù giam;
- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Minh Ph từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù giam;
- Căn cứ khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung mỗi bị cáo Trần Tuấn V, Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Ph số tiền 10.000.000 đồng đến 20.000.000đ;
- Căn cứ khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Trần Minh Ph số tiền 10.000.000 đồng đến 20.000.000đ;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tại sản và không yêu cầu gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
+ Trần Tuấn V: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ để sớm trở về với gia đình;
+ Đoàn Văn Th: Xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình;
+ Nguyễn Hoài Th1: Mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt;
+ Trần Minh Ph: Xin được giảm nhẹ để sớm trở về với gia đình để chăm sóc mẹ già;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của các người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã có lời khai trong quá trình điều tra, các bị hại nhận lại tài sản bị trộm và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về hình phạt đối với bị cáo, các bị hại yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét thấy lời khai bị cáo, bị hại và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phù hợp với lời khai thu thập tại Cơ quan điều tra; kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Trần Tuấn V biết rõ xe mô tô của Nguyễn Trường Giang có được là do trộm cắp mà có nhưng vẫn hứa hẹn và mua lại để bán kiếm lời. Từ đầu tháng 10-2020 đến tháng 11-2020, V cùng Đoàn Văn Th và Nguyễn Hoài Th1 đã mua tổng cộng 12 xe mô tô có nguồn gốc do trộm cắp mà có của Giang để bán lại cho người tên Nôi ở Campuchia. Trong đó, V trực tiếp mua 12 xe mô tô trị giá 147.332.000 đồng; Th giúp sức cho Vmua 02 xe mô tô trị giá 25.667.000 đồng; Th2 giúp sức cho V mua 01 xe mô tô trị giá 14.333.000 đồng. Trần Minh Ph biết rõ xe mô tô trị giá 13.000.000 đồng, là do người khác trộm cắp mà có, tuy không hứa hẹn trước nhưng khi được V cho Ph vẫn nhận và sử dụng làm phương tiện đị lại thì bị phát hiện.
Đây là vụ án đồng phạm có tổ chức, Rừng, Giang, V là người tổ chức, Th và Th2 là người giúp sức thực hiện hành vi trộm cắp. Ph là người tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Đối với hành vi của Nguyễn Trường Giang, Đặng Thành Rừng đã bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự và đang xử lý trong vụ án khác.
Đối với Phan Văn An biết Th2 và V mang xe mô tô có nguồn gốc do trộm mà có về để ở nhà nhưng do nhà An và Th2 cùng thuê để ở, hằng ngày An đi làm việc riêng, không giúp sức hay hưởng lợi từ việc cho Th2 để xe mô tô có nguồn gốc do trộm cắp ở nhà mình thuê, nên không xử lý hình sự đối An là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với Lê Văn Trung có hành vi cảnh giới lực lượng Biên phòng cho Trần Tuấn Vmang xe đến khu vực cột mốc Biên giới Việt Nam-Campuchia gần nhà của Trung để bán, nhưng Trung không biết xe mô tô có nguồn gốc do trộm cắp mà có nên không xử lý hình sự đối với Trung là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của Trần Tuấn V, Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Th1 và Trần Minh Ph là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, biết việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân, bị cáo cố ý thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo Ph có hành vi trực tiếp nhận tài sản từ người phạm tội (bị cáo V) rồi chuyển giao cho người khác theo ý chí của người phạm tội và bị cáo Ph cũng vì lợi ích cá nhân nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Tuấn V phạm tội từ 02 lần trở lên, có tiền án chưa được xóa án tích mà tái phạm, quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Đoàn Văn Th phạm tội từ 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Tuấn V, Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Th1 khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Minh Ph phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173; khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Buộc mỗi bị cáo Trần Tuấn V, Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Th1, Trần Minh Ph có nghĩa vụ nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo Biên bản ngày 11-6-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh như sau:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Pro màu xám, số Imei 358218094996317;
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (Một) tua vit bằng kim loại, phần thân tua vit có một đầu dẹp và một đầu bốn khía có thể tháo rời một phần cán tua vít dài 17,5 cm, tên thân tua vít có dòng chữ “CHROME – VANADIUM” phần cán tua vít bằng nhựa dài 11 cm màu xám xanh;
Đối với các giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, các biển số xe mô tô đã thu giữ, Cơ quan điều tra đã có quyết định ủy thác xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả, Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi Cơ quan điều tra nơi xảy ra mất trộm tiếp tục xác minh xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao các giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, các biển số xe mô tô đã thu giữ cho Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử lý theo thẩm quyền như sau:
+ 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 94D1 – 403.86;
+ 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68N1 – 256.21;
+ 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59D2 – 631.49;
+ Các biển số xe mô tô: 94E1 – 085.44; 94K – 988.89; 94K1 – 533.33; 50N2 – 004.07; 73G1 – 007.80; 59N1 – 030.26; 83P1 – 785.72; 84G1 – 495.65; 94E1 – 402.31; 94D1 – 403.86; 68N1 – 256.21; 93B1 – 343.20; 71B2 – 732.94; 60F1 – 300.00; 67L2 – 281.16; 70H1 – 286.89; 69M1 – 119.92; 94D1 – 511.54; 63B8 – 107.76.
+ Trả cho bị cáo Đoàn Văn Th 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh trắng, số Imei 8606460422627090 do không liên quan vụ án;
+ Trả lại cho bị cáo Trần Tuấn V số tiền 1.000.000 (Một triệu đồng), bị cáo Đoàn Văn Th2 số tiền 120.000 (Một trăm hai mươi nghìn) đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên tài sản của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị L, bị cáo Trần Tuấn V, bị cáo Trần Minh Ph gồm 01 (một) thửa đất số 50 có diện tích 59,0 m2 tại tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại Khu phố 2, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Lệnh kê biên tài sản số 18/L ngày 14-5-2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi bị cáo Trần Tuấn V, Trần Minh Ph thi hành xong các khoản tiền nêu trong bản án.
Về án phí: Các bị cáo Trần Tuấn V, Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Th1, Trần Minh Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Tuấn V (Cu L) 05 (Năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18-12-2020 nhưng khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09-11-2020 đến ngày 18-11-2020.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Th (Nh) 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18-12-2020 nhưng khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09-11-2020 đến ngày 18-11-2020.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài Th1 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-5-2021.
- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Minh Ph 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành.
2. Hình phạt bổ sung:
Căn cứ khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự:
Phạt bổ sung mỗi bị cáo Trần Tuấn V, Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Ph số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng;
Căn cứ khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Trần Minh Ph số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng;
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Pro màu xám, số Imei 358218094996317;
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (Một) tua vit bằng kim loại, phần thân tua vit có một đầu dẹp và một đầu bốn khía có thể tháo rời một phần cán tua vít dài 17,5 cm, tên thân tua vít có dòng chữ “CHROME – VANADIUM” phần cán tua vít bằng nhựa dài 11 cm màu xám xanh;
Giao Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử lý theo thẩm quyền:
+ 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 94D1 – 403.86;
+ 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68N1 – 256.21;
+ 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59D2 – 631.49;
+ Các biển số xe mô tô: 94E1 – 085.44; 94K – 988.89; 94K1 – 533.33; 50N2 – 004.07; 73G1 – 007.80; 59N1 – 030.26; 83P1 – 785.72; 84G1 – 495.65; 94E1 – 402.31; 94D1 – 403.86; 68N1 – 256.21; 93B1 – 343.20; 71B2 – 732.94; 60F1 – 300.00; 67L2 – 281.16; 70H1 – 286.89; 69M1 – 119.92; 94D1 – 511.54; 63B8 – 107.76.
+ Trả cho bị cáo Đoàn Văn Th 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh trắng, số Imei 8606460422627090 do không liên quan vụ án;
+ Trả lại cho bị cáo Trần Tuấn V số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, bị cáo Đoàn Văn Th2 số tiền 120.000 (Một trăm hai mươi nghìn) đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Theo Biên bản ngày 11-6-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Lệnh kê biên tài sản số 18/L ngày 14-5-2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi bị cáo Trần Tuấn V, Trần Minh Ph thi hành xong các khoản tiền nêu trong bản án.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trần Tuấn V, Đoàn Văn Th, Nguyễn Hoài Th1, Trần Minh Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV06; - VKSND H. Tân Châu; - CCTHA - DS H. Tân Châu; - CQĐT Công an H. Tân Châu; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - THA phạt tù; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Trọng Hiếu |